|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2024/HSPT-CTN
Ngày: 15/07/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Các thẩm phán: Ông Đặng Chí Công và bà Đinh Thị Như Phượng.
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đinh Ê Ban Mỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 07/2024/TLPT-HS-CTN ngày 22 tháng 04 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tùng L, Nguyễn Công D, Phạm T, Đinh Chỉ T, Lê Quốc A, Trần Anh T1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2024/HS-ST ngày 11 tháng 03 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.
1. Các bị cáo:
1.1. Nguyễn Tùng L, sinh ngày 03/01/2007, tại huyện L, tỉnh Đồng Nai. (tại thời điểm phạm tội ngày 6/5/2023 bị cáo mới được 16 năm 04 tháng 02 ngày tuổi). Nơi cư trú: Làng Ring, xã H, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà Nguyễn Thị T2; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
1.2. Nguyễn Công D (Mèo), sinh ngày 09/11/2005, tại huyện C, tỉnh Gia Lai. (tại thời điểm phạm tội ngày 6/5/2023 bị cáo mới được 17 năm 5 tháng 27 ngày tuổi). Nơi cư trú: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.; Nghề nghiệp: Thợ sửa xe; Trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Công V và bà Trần Thị H; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
1.3. Phạm T, sinh ngày 23/3/2006, tại huyện C, tỉnh Gia Lai. (tại thời điểm phạm tội ngày 6/5/2023 bị cáo mới được 16 năm 01 tháng 13 ngày tuổi). Nơi cư trú: Thôn F, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Học Sinh; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm P và bà Trần Thị Mỹ L1; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
1.4. Đinh Chỉ T, sinh 28/02/2006, tại huyện C, tỉnh Gia Lai. (tại thời điểm phạm tội ngày 6/5/2023 bị cáo mới được 16 năm 02 tháng 08 ngày tuổi). Nơi cư trú: Thôn L, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Chỉ H1 và bà Đinh Thị T3; Tiền án: Không; Tiền sự: 01( Ngày 08/4/2022 cùng đồng bọn có hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đến ngày 10/02/2023 bị Công an huyện C, tỉnh Gia Lai ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0004392 bằng hình thức phạt tiền số tiền là 3.250.000 đồng. Ngày 04/4/2023 đã nộp phạt). Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
1.5. Lê Quốc A, sinh 20/11/2006, tại huyện C, tỉnh Gia Lai (tại thời điểm phạm tội ngày 6/5/2023 bị cáo mới được 16 năm 05 tháng 16 ngày tuổi). Nơi cư trú: Thôn P Ga A, xã C, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Học Sinh; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đức N và bà Hà Thị Thu H2; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
1.6. Trần Anh T1, sinh ngày 16/12/2006, tại huyện C, tỉnh Gia Lai.(tại thời điểm phạm tội ngày 6/5/2023 bị cáo mới được 16 năm 4 tháng 20 ngày tuổi). Nơi cư trú: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T4 và bà Nguyễn Thị L2; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2. Người bào chữa:
2.1. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tùng L: Ông Huỳnh Văn K - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh G. Có mặt.
2.2. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công D, Phạm T: Ông Trần Mạnh T5 - Luật sư thực hiện trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh G. Có mặt.
2.3. Người bào chữa cho bị cáo Đinh Chỉ Trung N1, Lê Quốc A, Trần Anh T1: Bà Trang Thị Thùy D1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh G. Có mặt.
3.Người đại diện hợp pháp và cũng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1.Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Tùng L: Người giám hộ Bà Lê Thị H3, trú tại: Làng R, xã H, huyện C, tỉnh Gia Lai. Là bà ngoại của bị cáo. Có mặt.
3.2. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm T: Ông Phạm P và bà Trần Thị Mỹ L1; trú tại: Thôn F, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. (là bố mẹ đẻ của bị cáo). Bà L3 có mặt.
3.3.Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đinh Chỉ Trung N1: Ông Đinh Chỉ H1 và bà Đinh Thị T3; trú tại: Thôn L, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. (là bố mẹ đẻ của bị cáo). Ông H1 có mặt.
3.4.Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê quốc A1: Ông Lê Đức N và bà Hà Thị Thu H2; trú tại: Thôn P Ga A, xã C, huyện C, tỉnh Gia Lai. (là bố mẹ đẻ của bị cáo). Bà H2 có mặt.
3.5.Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Anh T1: Ông Trần Văn T4 và bà Nguyễn Thị L2; trú tại: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. (là bố mẹ đẻ của bị cáo). Ông T4 có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 06/5/2023, Ngô Hữu P1, Nguyễn Tùng L, Bùi Đức H4, Lê Văn Q, Nguyễn Thế V1, Phạm Anh D2, Nguyễn Công D, Đinh Phan Gia H5, Trịnh Thế V2, Nguyễn H6, Bùi Đức S, Vũ Hoàng Đ, uống rượu tại nhà của Trương Đức P2. Sau đó, Nguyễn Công D, Đinh Phan Gia H5 đi uống cà phê, Vũ Hoàng Đ, Nguyễn Hoàng đ vào phòng của nhà anh Trương Đức P2 để ngủ, Bùi Đức S, Trịnh Thế V2 đi về trước. Những người còn lại tiếp tục nhậu, đến khoảng 21 giờ cùng ngày, do hết rượu, Phạm Anh D2 điều khiển xe mô tô loại xe Visson (không xác định được biển kiểm soát) chở Ngô Hữu P1 đi mua rượu. Khi đi đến khu vực ngã tư thuộc tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, thì D2 và P1 gặp Chu Ngọc C điều khiển xe mô tô loại xe WinerX, biển kiểm soát 81C1-167.01, chở Lê Sỹ Tấn T6, Trần Văn N2, T6 cầm theo 01 con dao thái lan, kích thước khoảng 20cm, để trong túi áo khoác, N2 không cầm hung khí, Vũ Hoàng A2 điều khiển xe mô tô loại xe Visson, biển kiểm soát 81T1- 191.86, chở nam thanh niên tên Nguyễn Văn T7 (không xác định được nhân thân, lai lịch), T7 không cầm hung khí, Ngô Đặng Quốc V3 điều khiển xe mô tô loại Air Blade, biển kiểm soát 81B3-341.84, chở Chu Ngọc D3, Đặng Minh T8, T8 cầm theo 01 bình xịt hơi cay, loại nhỏ để trong túi áo khoác, D3 không cầm hung khí. Tất cả đang trên đường đi uống cà phê từ khu vực Bờ kè, thuộc thôn D, thị trấn C về. Khi gặp nhóm của Chu Ngọc C, Ngô Hữu P1 nhặt lấy 01 cây gỗ dài khoảng 1,5m trên vỉa hè cầm trên tay. Do Trần Văn N2 có mâu thuẫn từ trước với P1 nên khi gặp P1, N2 hô lên “thằng P1 kìa”, lúc này C điều khiển xe mô tô đuổi theo P1 và D2, thấy vậy Ngô Đặng Quốc V3, Vũ Hoàng A2 cũng điều khiển xe mô tô đuổi theo. Khi bị đuổi P1, D2 chạy trên đường H đến khu vực Chợ phía Nam C rồi đi qua đường Đ rẽ vào đường hẻm nhà của Trương Đức P2. Lúc này nhóm của C cũng đến, V3 điều khiển xe mô tô chở D3 và T8 chạy vào đường hẻm, xe mô tô của C, A đứng ngoài đầu đường hẻm, nhóm của P1 đi ra thì bị T8 dùng bình xịt hơi cay xịt vào nhóm của P1. T6, N2, T7 xuống xe nhặt đá bên lề đường ném nhóm của P1 nhưng không trúng, sau đó tất cả bỏ đi về.
Do bực tức, nên Ngô Hữu P1 rủ Phạm Anh D2, Nguyễn Thế V1, Bùi Đức H4, Nguyễn Tùng L, Lê Văn Q đi tìm nhóm của Chu Ngọc C để đánh, nghe vậy tất cả đồng ý. Khi đi H4 điều khiển xe mô tô loại xe Honda Vison (không xác định được biển kiểm soát) chở D2 và P1 cầm theo 02 dao tự chế dài khoảng 02m (thường gọi dao phóng lợn), V1 điều khiển xe mô tô loại Luvias, biển kiểm soát 81N2- 0220, chở L và Q, L cầm theo 01 cây tuýp sắt dài khoảng 01m, Q cầm theo 01 cây ba chĩa dài khoảng 02m. Tất cả đi từ nhà của Trương Đức P2 ra đường Đ, đến đường H, sau đó đi trên đường H rẽ trái vào đường N đến đường P thuộc Tổ dân phố G, thị trấn C. Khi đi ngang qua quán N7 lá é, thuộc tổ dân phố G, thị trấn C, huyện C, nhóm của Ngô Hữu P1 gặp Nguyễn Tuấn N3 đang đứng trên vỉa hè. Do trước đó nhóm của P1 thấy N3 thường chơi với nhóm của Chu Ngọc C nên khi thấy N3 cả nhóm cầm hung khí đuổi đánh, N3 bỏ chạy vào trong quán nhậu G lá é nên không đánh được. Bùi Đức H4 tiếp tục điều khiển xe mô tô loại xe Honda Vison chở D2 và P1 cầm theo hung khí, V1 điều khiển xe mô tô loại L4 chở L và Q cầm theo hung khí, mục đích đi tìm nhóm của Chu Ngọc C để đánh, tất cả đi theo đường Phạm Văn Đ1 rẽ sang đường P đi đến khu vực hồ nước (thường gọi khu vực Bờ kè) thuộc thôn D, thị trấn C nhưng không gặp nhóm của C. Lúc này, Đinh Phan Gia H5 và Nguyễn Công D trên đường đi uống cà phê về, gặp nhóm của Ngô Hữu P1, khi thấy nhóm của P1 cầm theo hung khí, nên H5, D đi theo để xem. Cả nhóm tiếp tục điều khiển xe mô tô, cầm theo hung khí đi ngang qua đường vành đai (đường B) trước quán C1, thuộc thôn D, thị trấn C vòng qua đường C đi đến ngã tư (ngã tư Đ) thuộc tổ dân phố A, thị trấn C, đi theo đường H hướng lên đến khu vực Thôn M, thị trấn C, lúc này xe mô tô của H4 và V1 điều khiển chạy trước, xe mô tô của D và H5 chạy sau, khi đến khu vực tổ dân phố A, thị trấn C thì xe mô tô hết xăng, nên H5 và D đẩy xe quay lại cây xăng số 10 đổ xăng và đi về nhà Trương Đức P2. Bùi Đức H4 điều khiển xe mô tô chở D2 và P1, V1 điều khiển xe mô tô chở L và Q đi đến khu vực thôn M, thị trấn C, sau đó cả nhóm quay lại theo đường H đến ngã tư tổ dân phố A, thị trấn C thì Bùi Đức H4 điều khiển xe mô tô chạy trước rẽ vào đường C đến khu vực bờ hồ, V1 điều khiển xe mô tô chở L và Q chạy sau, khi đi đến khu vực Cây xăng số 10 thì không thấy H4, D2, P1 nên tất cả quay lại đường H đến ngã tư tổ dân phố A, thị trấn C vòng qua đường Q, thuộc tổ dân phố A, thị trấn C rồi về nhà của Trương Đức P2. Đối với H4, D2, P1 khi đi đến đường vành đai (đường bờ hồ) thuộc thôn D, thị trấn C, thì gặp nhóm của Nguyễn Tuấn N3 đang đứng tại đó, khi thấy nhóm của N3, P1 và D2 xuống xe cầm theo hung khí chạy đến hù dọa nhóm của Nguyễn Tuấn N3, nhóm của N3 điều khiển xe mô tô chạy ra đường P, thấy vậy D2, P1 lên xe mô tô của H4, H4 điều khiển xe đi về nhà của Trương Đức P2.
Đối với Nguyễn Tuấn N3, khi bị nhóm của Ngô Hữu P1 đuổi đánh tại quán N7 lá é, thuộc tổ dân phố G, thị trấn C. Do bực tức N3 mượn điện thoại của Phạm Việt Q1 gọi cho Phạm T và Nguyễn Công D nhờ lên đánh nhóm của Ngô Hữu P1, nghe vậy T và D đồng ý, rủ Nguyễn Văn T9, Rơ Lan Đ2, Nguyễn Minh T10, Trần A3 Thuật Nguyễn Hoàng V4, Đinh Chỉ T, Lê Quốc A, Phan Văn L5, Nguyễn Tấn T11, Bùi Trần Ngọc P3, Nguyễn Hữu N4, Lê Viết N5, Nguyễn Huy P4, Phạm Trí T12. Khi đi T10 điều khiển xe mô tô, loại xe dream, biển kiểm soát 81B2- 391.59, chở T9 cầm theo 01 dao, dài khoảng 40cm, Đ2 ngồi sau không cầm theo hung khí, T1 điều khiển xe mô tô loại xe Wave, biển kiểm soát 81S1- 243.45, chở T và D, T cầm 01 dao tự chế (dao phóng lợn) và 01 bình xịt hơi cay loại nhỏ, Danh cầm 01 dao tự chế, kích thước khoảng 60cm, Lê Quốc A điều khiển xe mô tô loại Daelirc, biển kiểm soát 81AR- 018.49, chở V4 và Đinh Chỉ Trung N1, V4 cầm 01 dao tự chế, dài khoảng 01m, N1 cầm 01 dao tự chế, dài khoảng 1,5m, P3 điều khiển xe mô tô loại xe Sirius, loại xe 50, biển kiểm soát 81AA-010.64, chở Nguyễn Hữu N4, không cầm hung khí, L5 điều khiển xe mô tô loại xe Visson, biển kiểm soát 81S1- 105.81, chở T11, không cầm theo hung khí, P4 điều khiển xe mô tô, loại xe 50 phân khối, biển kiểm soát 81AA- 163.39, chở T12, không cầm theo hung khí, Lê Viết N5 điều khiển xe mô tô loại xe Sirius, biển kiểm soát 81AR- 001.78 đi một mình. Tất cả đi theo đường Quốc lộ 14 đến khu vực Cổng chào huyện C thì Lê Viết N5 điều khiển xe đi về nhà, những người khác điều khiển xe mô tô đi theo đường Quốc lộ 14, trên đường đi thì L5, P3 điều khiển xe mô tô đi phía sau, xe mô tô của P4 điều khiển đi đến khu vực xã I, huyện C thì chết máy. Lúc này T1, A, T10 điều khiển xe mô tô chở đồng bọn đi đến đường H thuộc thị trấn C, rẽ vào đường K đi đến quán N7 lá é, thuộc Tổ dân phố G, thị trấn C, đón Nguyễn Tuấn N3. Khi gặp N3, thì T đưa cho N3 cầm dao tự chế (dao phóng lợn) để N3 lên xe đi cùng, tất cả cầm theo hung khí đi tìm nhóm của P1 để đánh, nhóm N3 đi theo đường Phạm Văn Đ1 đến ngã tư đường N thì N3 xuống xe và lên xe mô tô loại xe Sirius, biển kiểm soát 81P1- 407.22 của Phạm Việt Q1, Q1 điều khiển xe chở N3 (N3 cầm dao tự chế), đi theo đường N đến đường T rẽ trái đi đến đường P, theo đường P đến ngã tư đường T và đường P, nhưng không thấy nhóm của P1, thì tất cả đứng tại đó. Lúc sau P3, L5 điều khiển xe mô tô cùng đồng bọn đến, lúc này nhóm của N3 điều khiển xe mô tô đi tìm nhóm của P1, P3, L5 điều khiển xe mô tô đi ra đường tránh đông đi về nhà. Nhóm của N3 đi theo đường P đến trước quán C2, rẽ vào đường vành đai bờ Bờ kè thuộc Thôn D, thị trấn C. Tại đây nhóm của N3 gặp nhóm của P1, thì nhóm của N3 bỏ chạy ra nhiều hướng nên P1 cùng đồng bọn đi về. Đối với P4, sau khi xe mô tô nổ máy thì điều khiển xe chở T12 đi đến cây xăng số A, thuộc thị trấn C, không thấy D nên cả hai đi về nhà.
Hành vi điều khiển nhiều xe mô tô chạy tốc độ cao, hò hét, cầm theo hung khí, dao phóng lợn, dao tự chế đuổi đánh nhau, gây ồn ào, mất trật tự trên các tuyến đường giao thông, khu vực vui chơi, giải trí của các bị cáo và đồng bọn đã làm cho quần chúng nhân dân hoang mang, lo sợ, làm mất sự ổn định, trật tự công cộng, sinh hoạt bình thường của người dân. Vì vậy, quần chúng nhân dân trên địa bàn thị trấn C đã trình báo vụ việc đến Cơ quan Công an. Sau khi sự việc xảy ra các Tổ trưởng tổ dân phố G, tổ dân phố H, Thôn T và Ủy ban nhân dân thị trấn C đã làm báo cáo đến cơ quan chức năng yêu cầu xử lý các đối tượng trên.
Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã tiến hành xác minh điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ có liên quan vụ việc, trích xuất thu giữ hình ảnh Camera của các hộ dân trên địa bàn, thu giữ 01 bình xịt hơi cay, 01 con dao rựa, 02 dao tự chế (dao phóng lợn). Tại Cơ quan điều tra, Ngô Hữu P1, Nguyễn Tùng L, Bùi Đức H4, Lê Văn Q, Nguyễn Thế V1, Phạm Anh D2, Nguyễn Tuấn N3, Phạm Việt Q1, Phạm T, Nguyễn Công D, Nguyễn Văn T9, Nguyễn Minh T10, Rơ Lan Đ2, Trần Anh T1, Đinh Chỉ T, Nguyễn Hoàng V4, Lê Quốc A đã khai nhận toàn bộ hành vi cùng đồng bọn cầm theo hung khí, mục đích đánh nhau và điều khiển xe mô tô chở nhau đi trên các tuyến đường thuộc địa bàn thị trấn C, rú ga, nẹt bô, la hét đã gây mất an ninh trật tự, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn thị trân C.
Ngày 13/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra Quyết định số: 85/QĐ-ĐCSHS, trưng cầu Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, giám định kỹ thuật số điện tử của 05 File video trong vụ Gây rôi trật tự công cộng trên có bị cắt, ghép nội dung hình ảnh không? Xác định hành động diễn biến của những người trong video.
Tại Bản kết luận giám định số: 1216/KL-KTHS, ngày 15/9/2023, của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận:
Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép nội dung hình ảnh trong file video tên: “CHEO REO.PHƯỚC.CHẬM.2g4p.PHƯỚC”; file video "SKY GARDEN2" và file video tên "SKY GARDEN".
Không xác định được nội dung hình ảnh trong file video tên: “GÀ LÁ É. ĐÓN NĂNG” có bị cắt, ghép nội dung hình ảnh hay không (do không xác định được nguyên nhân hình ảnh trong five video chuyển động không liên tục tại một số thời điểm)
Không tiến hành giám định đối với nội dung: “Xác định hành động, diễn biến của những người trong video” do nội dung yêu cầu giám định vượt quá khả năng của giám định viên. (BL251-252)
Ngày 17/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra Quyết định số: 123/QĐ-ĐCSHS, trưng cầu Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, giám định: Xác định 01 bình xịt, kích thước dài 14,8cm, đường kính đáy bình 3,5cm, thân bình màu xanh, phần đầu có màu đen, trên thân bình có nhiều dòng chữ, trong đó có dòng chữ AMERICAN STYLE, NATO, SUPER-PARALISANT và hình ngôi sao, có phải là bình xịt hơi cay không? Loại gì? Có phải là công cụ hỗ trợ không?
Tại Bản kết luận giám định số: 1735/KL-KTHS, ngày 14/9/2023, của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận:
Bình xịt có đặc điểm nêu trên gửi giám định là phương tiện có tính năng, tác dụng tương tự phương tiện xịt hơi cay, hiện tại còn sử dụng được và thuộc công cụ hỗ trợ.
Tại Bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 28/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai truy tố các bị cáo Ngô Hữu P1 (Cu), Phạm Anh D2 (C), Nguyễn Tùng L, Lê Văn Q (Quang Bi T), Bùi Đức H4, Nguyễn Tuấn N3, Phạm T, Nguyễn Công D (Mèo), Rơ Lan Đ2, Nguyễn Văn T9, Nguyễn Minh T10, Phạm Việt Q1, Đinh Chỉ T, Lê Quốc A, Nguyễn Hoàng V4 (Vũ Bá T13) và Trần Anh T1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số; 12/2024/HS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tùng L, Nguyễn Công D, Phạm T, Đinh Chỉ T, Lê Quốc A, Trần A3 Thuật phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Về điều luật áp dụng và hình phạt:
+ Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91 và Điều 101 BLHS.
Xử phạt bị cáo Phạm T 20 (Hai mươi ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công D (Mèo) 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Lê Quốc A4 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
+Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91 và Điều 101 BLHS.
Xử phạt bị cáo Đinh Chỉ Trung N1 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tùng L 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Trần Anh T14 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên bố xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
3. Về kháng cáo: Trong thời hạn luật định, các bị cáo Nguyễn Tùng L, Nguyễn Công D, Phạm T, Đinh Chỉ T, Lê Quốc A, Trần Anh T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Tuấn N3 là ông Nguyễn Công T15 xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo cho bị cáo Nguyễn Tuấn N3.
4. Diễn biến tại phiên tòa:
Các bị cáo Nguyễn Tùng L, Nguyễn Công D, Phạm T, Đinh Chỉ T, Lê Quốc A, Trần A3 Thuật giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm, các bị cáo thấy hối hận về hành vi phạm tội của mình.
Trước khi mở phiên tòa ngày 07 tháng 5 năm 2024 người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Tuấn N3 là ông Nguyễn Công T15 rút toàn bộ nội dung kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm đã ra thông báo về việc rút kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Tuấn N3 là ông Nguyễn Công T15.
5. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
5.1 Đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Tùng L, Nguyễn Công D, Phạm T, Đinh Chỉ T, Lê Quốc A, Trần A3 Thuật giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2024/HS-ST ngày 11 tháng 03 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.
- Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Tùng L, Nguyễn Công D, Phạm T, Đinh Chỉ T, Lê Quốc A, Trần Anh T1 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5.2 Người bào chữa cho các bị cáo là ông Huỳnh Văn K, ông Trần Mạnh T5, bà Trang Thị Thùy D1: Hoàn toàn thống nhất như hành vi phạm tội của các bị cáo như tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2024/HS-ST ngày 11 tháng 03 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã quyết định. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo phạm tội mang tích chất đồng phạm giản đơn do bị bạn bè rủ rê, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, tham gia với vai trò không đáng kể và phần đông các bị cáo là người chưa thành niên đề nghị áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo theo hướng giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
5.3. Các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo chưa thành niên: Không bổ sung gì thêm với lời bào chữa của luật sư; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo vì có điều kiện hoàn cảnh khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản án sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.
Đủ cơ sở khẳng định: Do có mâu thuẫn giữa nhóm của Ngô Hữu P1 với nhóm của Chu Ngọc C nên Ngô Hữu P1 đã rủ Phạm Anh D2, Nguyễn Thế V1, Bùi Đức H4, Nguyễn Tùng L, Lê Văn Q tìm nhóm của Chu Ngọc C đánh trả thù. Khi đến quán N7 lá é, thuộc tổ dân phố G, thị trấn C gặp Nguyễn Tuấn N3 vì thấy N3 hay đi chung với nhóm của C nên cả nhóm của P1 đuổi đánh N3 nhưng không đánh được. Bực tức vì bị đuổi đánh Nguyễn Tuấn N3 đã rủ Phạm T, Nguyễn Công D, Rơ Lan Đ2, Nguyễn Văn T9, Nguyễn Minh T10, Phạm Viết Q2, Đinh Chỉ T, Lê Quốc A, Nguyễn Hoàng V4 và Trần Anh T1 tìm nhóm của Ngô Hữu P1 đánh trả. Đến khoảng 21 giờ đến hơn 21 giờ 30 phút, ngày 06/5/2023, tại địa bàn thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai các bị cáo đã thực hiện hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, cụ thể:
Nhóm thứ nhất gồm Ngô Hữu P1, Phạm Anh D2, Nguyễn Tùng L, Lê Văn Q, Bùi Đức H4 và Nguyễn Thế V1. Nhóm thứ 2 gồm: Nguyễn Tuấn N3, Phạm T, Nguyễn Công D, Rơ Lan Đ2, Nguyễn Văn T9, Nguyễn Minh T10, Phạm Viết Q2, Đinh Chỉ T, Lê Quốc A, Nguyễn Hoàng V4 và Trần Anh T1 sử dụng nhiều hung khí nguy hiểm gồm dao tự chế, tuýp sắt, cây ba chĩa, bình xịt hơi cay, điều khiển nhiều xe mô tô phóng nhanh, nẹt pô, hò hét đuổi đánh nhau trên các tuyến đường Đ, H, H, Nguyễn Tri P5, Phạm Văn Đ1, Trần Hưng Đ3, Phan Đình P6, Cách M, đường vành đai bờ hồ (bờ kè)... thuộc địa bàn thị trấn C nơi vui chơi giải trí có đông dân cư sinh sống hai bên đường gây hậu quả làm mất an ninh, ảnh hưởng lớn đến trật tự công cộng tại địa phương.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Tùng L, Nguyễn Công D, Phạm T, Đinh Chỉ T, Lê Quốc A, Trần Anh T1 và Nguyễn Tuấn N3 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Tùng L, Nguyễn Công D, Phạm T, Đinh Chỉ T, Lê Quốc A, Trần Anh T1 thấy rằng:
Đối với bị cáo Phạm T, Nguyễn Công D khi nghe Nguyễn Tuân Nó rủ đi đánh nhóm của Ngô Hữu P1 hai bị cáo không can ngăn mà điện thoại rủ các bị cáo khác tham gia đánh nhau nên hai bị cáo giữ vai trò là người rủ rê, lôi kéo và là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm phạm tội.
Đối với bị cáo Đinh Chỉ Trung N1, Nguyễn Tùng L, Lê Quốc A, Trần Anh T1 đều là người thực hành các bị cáo cầm theo hung khí dao tự chế, mã tấu..., điều khiển xe mô tô phóng nhanh, nẹp bô, la hét trên các tuyến đường thuộc thị trấn C, huyện C nhằm mục đích tìm nhóm của P1 để đánh trả thù.
Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo như:
Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Đinh Chỉ Trung N1 có ông nội, bà nội là người có công với cách mạng; bị cáo Nguyễn Tùng L có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có cha, mẹ bỏ đi từ nhỏ (năm 2013), bị cáo sống với bà ngoại Lê Thị H3 có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận; bị cáo Trần Anh T1 có mẹ là Nguyễn Thị L2 được chẩn đoán bị bệnh Tim, viêm hạch bạch huyết ở mặt, đầu và cổ, có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chung theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được áp dụng cho các bị cáo.
Các bị cáo Nguyễn Tùng L, Nguyễn Công D, Phạm T, Đinh Chỉ T, Trần Anh T1, Lê Quốc A khi thực hiện hành vi phạm tội đều là người chưa đủ 18 tuổi. Nên các bị cáo này được áp dụng các điều 90, 91, 98 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Tùng L, Nguyễn Công D, Phạm T, Đinh Chỉ T, Lê Quốc A, Trần Anh T1 không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của các bị cáo.
[6] Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Tùng L, Nguyễn Công D, Phạm T, Đinh Chỉ T, Lê Quốc A, Trần Anh T1 chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Điều luật áp dụng:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91 và Điều 101 BLHS đối với bị cáo Phạm T, Nguyễn Công D (M), Lê Quốc A.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91 và Điều 101 BLHS đối với bị cáo Đinh Chỉ Trung N1, Nguyễn Tùng L, Trần Anh T1.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
2. Xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Tùng L, Nguyễn Công D, Phạm T, Đinh Chỉ T, Lê Quốc A, Trần Anh T1. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2024/HS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.
2.1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tùng L, Nguyễn Công D, Phạm T, Đinh Chỉ T, Lê Quốc A, Trần A3 Thuật phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2.2.Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phạm T 20 (Hai mươi ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công D (Mèo) 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyên Tùng L 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Lê Quốc A 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Đinh Chỉ Trung N1 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Trần A3 Thuật 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Tùng L, Nguyễn Công D, Phạm T, Đinh Chỉ T, Lê Quốc A, Trần Anh T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Sỹ |
Bản án số 06/2024/HSPT-CTN ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự phúc thẩm về tội gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 06/2024/HSPT-CTN
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tủng L
