Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠC DƯƠNG

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 14 - 5 - 2024

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phương Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Trần Phương Anh
- Bà Rơ Ông Đi Na

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 66/2023/TLST – HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QÐST – HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024; Quyết định ngừng phiên tòa số 03/2023/QÐST-DS ngày 22/4/2024 và Thông báo số 04/2024/TB-TA ngày 24/4/2024, về việc mở phiên toà, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thùy T, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Doãn L, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Bùi Thị C, sinh năm 1964; nơi cư trú: Số B đường A, tổ dân phố H, thị trấn L, huyện H, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  2. Vợ chồng ông Phan C1, sinh năm 1967, bà Trần Thị Bích S, sinh năm 1973; cùng cư trú tại: Số F đường B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
  3. Vợ chồng anh Đặng Văn H, sinh năm 1992, chị Phan Thị Huyền T1, sinh năm 1999; cùng cư trú tại: Số F đường B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn ghi ngày 16 tháng 11 năm 2023; bản tự khai và biên bản lấy lời khai của chị Phan Thị Thùy T trình bày: Chị và anh Nguyễn Doãn L kết hôn năm 2020 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện; đến năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là anh L chơi đánh bài, bạc và phát sinh nợ nần; chị đã phải bán nhà và xe, là tài sản riêng của chị để trả các khoản nợ do anh L gây ra; vợ chồng thường xuyên cãi nhau và đã sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn.

- Về con chung: Chị và anh L có hai người con chung, là cháu Nguyễn Doãn K, sinh ngày 27/02/2020 và cháu Nguyễn Doãn Phan H1, sinh ngày 17/01/2022. Chị đề nghị được nuôi hai con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị xác định, vợ chồng chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị xác định, vợ chồng chị có nợ gồm:

  • + Bà Bùi Thị C số tiền 1.050.000.000 đồng; khoản nợ này đã được bà C khởi kiện và được Toà án giải quyết tại Quyết định số 06/2023/QĐST-DS ngày 21/7/2023 (quyết định đã có hiệu lực pháp luật).
  • + Nợ ông Phan C1 và bà Trần Thị Bích S (bố mẹ đẻ chị), số tiền là 2.950.000.000 đồng.
  • + Nợ vợ chồng anh Đặng Văn H và chị Phan Thị Huyền T1 (em gái và em rể chị), số tiền 2.850.000.000 đồng.

Đối với khoản nợ của bố mẹ và em gái, em rể chị, những người này không yêu cầu chị trả nợ nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với anh Nguyễn Doãn L: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã gửi cho anh các văn bản tố tụng cho anh L theo địa chỉ nơi anh L và chị T cư trú. Tuy nhiên, anh L không đến Toà án làm việc nên không có được lời trình bày của anh L trong hồ sơ vụ án.

Toà án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho anh L biết, để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đồng thời Toà án cũng không tiến hành hoà giải được, với lý do: Anh L vắng mặt.

Tại Phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đơn khởi kiện và biên bản lấy lời khai của Toà án; còn bị đơn thì vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên không có ý kiến gì.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho chị Phan Thị Thùy T được ly hôn với anh Nguyễn Doãn L. Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Doãn K, sinh ngày 27/02/2020 và cháu Nguyễn Doãn Phan H1, sinh ngày 17/01/2022 cho Chị Phan Thị Thùy T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Doãn L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về nợ chung: Do khoản nợ của bà Bùi Thị C đã được giải quyết bằng quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và khoản nợ của vợ chồng ông C1, bà S, cũng như khoản nợ của vợ chồng anh H, chị T1, những người này không yêu cầu Tòa án giải quyết, bản thân chị T cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết trong cùng vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Buộc chị Phan Thị Thùy T phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Thùy T đối với anh Nguyễn Doãn L là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình. Bị đơn là anh Nguyễn Doãn L, cư trú tại huyện L (theo kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 23, ngày 23 tháng 4 năm 2020 của UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Phan Thị Thùy T và anh Nguyễn Doãn L là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Thùy T: Theo kết quả xác minh của Toà án về nơi cư trú của anh L tại: Công an thị trấn L, huyện L; tổ trưởng tổ dân phố Đăng Lèn; bố mẹ đẻ của chị T là ông bà Phan C1 và Trần Thị Bích S, thì: Anh Nguyễn Doãn L đăng ký thường trú tại nhà ông Phan C1 (TDP Đ, thị trấn L). Chị T xác định, từ khi anh L nợ nần thì vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, anh L không còn chung sống trong nhà với chị và các con, vợ chồng đã sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa; thỉnh thoảng anh L về thăm con là phù hợp với kết quả xác minh của Toà án.

Xét thấy, mâu thuẫn trong hôn nhân giữa chị T và anh L đã trầm trọng, chị T cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở để xem xét.

[4]. Về con chung: Theo chị T trình bày, chị và anh L có 2 con chung là cháu Nguyễn Doãn K, sinh ngày 27/02/2020 và cháu Nguyễn Doãn Phan H1,

sinh ngày 17/01/2022; lời trình bày của chị T phù hợp với kết quả xác minh của Toà án; hiện nay cả hai cháu đang do chị nuôi dưỡng nên tiếp tục giao con cho chị nuôi dưỡng, để đảm bảo sự phát triển của các cháu. Chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận nội dung này.

[5]. Về tài sản chung: Chị T xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không có yêu cầu; về phía anh L, không có lời khai nên Hội Đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về nợ chung: Chị T xác định, vợ chồng có khoản nợ bà Bùi Thị C, trong quá trình giải quyết vụ án, bà C cũng không hợp tác để trình bày ý kiến. Mặt khác, khoản nợ mà chị T xác định là nợ chung, chị không yêu cầu anh L có nghĩa vụ trả nợ, khoản nợ này đã được Toà án giải quyết tại Quyết định số 06/2023/QÐST-DS ngày 21/7/2023 và quyết định đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

Đối với số tiền nợ 2.950.000.000 đồng của vợ chồng ông Phan C1 và bà Trần Thị Bích S (bố mẹ đẻ chị T) và số tiền nợ 2.850.000.000 đồng của vợ chồng anh Đặng Văn H và chị Phan Thị Huyền T1 (em gái và em rể chị T); chị T và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan này đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: Chị Phan Thị Thùy T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các điều 51, 57 và 58 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị Thùy T: Chị Phan Thị Thùy T và anh Nguyễn Doãn L, được ly hôn.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Doãn K, sinh ngày 27/02/2020 và cháu Nguyễn Doãn Phan H1, sinh ngày 17/01/2022 cho chị Phan Thị Thùy T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con trưởng thành. Anh Nguyễn Doãn L không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

  3. Về án phí: Chị Phan Thị Thùy T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002012 ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dương (chị T đã nộp đủ).

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSND huyện Lạc Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Lạc Dương;
  • - UBND TT Lạc Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu AV; HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Phương Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HNGĐ - ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 06/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thi Thu Tr - Nguyen Doan L (ly hon)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger