|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 06/2024/HS- ST Ngày: 15 - 4 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Lê Tuyết Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Quang Tuấn.
2. Ông Đặng Công Kiên.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Minh- Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quảng Điền (Số A N, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 03/2024/HSST ngày 02 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 165/2024/TB-TA ngày 03/4/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Viết K; giới tính: Nam; sinh ngày 12/01/1989 tại Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: thợ mộc; trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Hồ Viết H, sinh năm 1953 và bà Trần Thị X, sinh năm 1953. Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ năm. Vợ Nguyễn Thị V, sinh năm 1993 và có 02 con lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2022. Tiền sự: không; tiền án: không
Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống với gia đình, học đến lớp 09/12 thì nghỉ học ở nhà lao động phụ giúp gia đình, từ năm 2011 đến năm 2015 đi xuất khẩu lao động tại nước Malaysia, năm 2016 trở về địa phương và sinh sống bằng nghề thợ mộc cho đến ngày gây án.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/10/2023 cho đến nay. (Có mặt).
- Bị hại: Anh Lê Đình L, sinh năm 1986. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Trọng T, sinh năm 1990. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Vắng mặt).
-Người làm chứng :
Anh Hồ Viết K1; sinh năm: 1992. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Vắng mặt).
Anh Hồ Viết Q; sinh năm: 1989. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Vắng mặt).
Anh Hoàng Văn M; sinh năm: 1981. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Vắng mặt).
Anh Hồ Viết T1; sinh năm: 1992. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Vắng mặt).
Anh Lê H1; sinh năm: 1973. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Vắng mặt).
Anh Văn Đức D; sinh năm: 1985. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Vắng mặt).
Chị Hồ Thị M1; sinh năm: 1980. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Có mặt).
Anh Hồ N; sinh năm: 1974. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Có mặt).
Anh Văn Đức H2; sinh năm: 1993. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Vắng mặt).
Anh Hồ Viết C; sinh năm: 1989. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Vắng mặt).
Bà Hồ Thị X1; sinh năm: 1953. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Vắng mặt).
Ông Văn T2; sinh năm: 1939. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 01/8/2023, Hồ Viết K, Hồ Viết C, Hồ Viết Q ngồi nhậu tại quán chị Hồ Thị M1 ở thôn Đ, xã Q, huyện Q. Trong khi ăn uống, Ngô Trọng T được Q gọi vào nhậu cùng thì xảy ra mâu thuẫn, do K cho rằng T không quen biết ai mà lại ngồi cùng bàn nhậu. Sau đó Hồ Viết K cầm vỏ chai bia huda gây gổ, xô xát với Ngô Trọng T và Hồ Viết Q, Ngô Trọng T cũng cầm vỏ chai bia chống trả lại Hồ Viết K. Lúc này có Lê Đình L, Văn Đức D, Hoàng Văn M đang nhậu trong quán can ngăn. Sau khi cất vỏ chai bia, Hồ Viết K vào khu vực bếp nhà bà Hồ Thị X1, cạnh sát quán nhậu lấy một con dao kim loại dài 32cm, phần lưỡi dài 20,5cm, cán dài 11,5cm để gây gổ, chém Q và T thì được L và D tiếp tục can ngăn, lấy dao đem cất ở trụ điện cạnh quán chị M1. Sau đó, Lê Đình L rủ K đi uống cà phê, K điều khiển xe mô tô chở L đến quán cà phê N1 - L1 ở thôn Đ, xã Q, K nói với L vào uống cà phê trước, còn K về nhà tắm rửa thay áo quần.
Khi đến nhà, K không tắm rửa mà đi về phía bếp nhà mình lấy một con dao khác dài khoảng 35cm, lưỡi bằng kim loại dài 25cm, cán nhựa màu xanh dài 10cm để vào giá kẹp của xe và gọi điện thoại cho Hồ Viết K1, là em ruột của K nói về quán chị M1 có việc.
Khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, Hồ Viết K điều khiển xe máy mang biển kiểm soát 75E1-091.75 quay trở lại quán chị M1, cầm dao vừa lấy tại nhà tiến đến bàn nhậu với mục đích chém T và Q. Q nghe Khơ hô lớn “thằng Quảng mô rồi” thì Q bỏ chạy về nhà. T chạy về hướng phía trước quán ra đường tỉnh lộ 4 và cầm lấy được một cái ghế nhựa màu đỏ để phòng ngự, K cầm dao đuổi theo T chém 01 cái vào vùng lưng T, T ngã xuống đất nằm nghiêng sang phải. Văn Đức D ôm can lại, cùng thời điểm K1 đến dùng chân đá một cái vào vùng bụng của T và dùng tay đánh 02 cái vào vùng mặt của T thì được mọi người can ngăn. K lấy thêm 01 con dao bằng kim loại dài 32cm, phần lưỡi dài 20,5cm rộng 5cm, cán dài 11,5cm ở trụ điện cạnh quán chị M1 và cầm hai tay hai con dao đi lui tới trước quán chị M1. Lúc này có anh Hồ Viết T1 đến hỏi K “vì sao chém anh T” thì K dùng dao dí vào cổ T1 uy hiếp “mi thích tao chém không” thì T1 không nói gì và bỏ đi. Khoảng 01 phút sau, Lê Đình L đi từ quán cà phê về thấy T bị K chém thương tích nên tiến đến vị trí của K lên tiếng can ngăn thì K dùng tay đánh vào vùng tai trái của L. L chạy về nhà ông Văn T2 cách đó khoảng 50 mét.
Sau khi L bỏ chạy thì có anh Lê H1 đi ngang qua nói “tụi bây xóm làng mà làm chi đánh nhau” thì K liền hai tay cầm 02 con dao rượt, chém anh H1 nhưng anh H1 tránh và đồng thời K1 ôm, can ngăn K nên anh H1 không bị thương. Lúc này, Lê Đình L cầm 01 cây rựa dài 66cm, lưỡi kim loại dài 34cm, phần cán tre tròn dài 32cm đi bộ từ nhà ông T2 tiến về phía quán chị M1. Khơ thấy L cầm rựa tiến về phía mình thì cầm 02 con dao chạy về phía L nói “mi mà đòi chặt tau à L”. Khi còn cách Khơ khoảng 8 mét thì L quay đầu bỏ chạy về hướng ngược lại, K đuổi theo L, L chạy khoảng 10 mét thì vứt rựa, L chạy tiếp thêm 10 mét thì bị ngã nghiêng sang trái trên đường nhựa tỉnh lộ 4. K đuổi theo đến nơi dùng chân đá, đạp hai cái vào chân phải của L. Sau đó K được K1 và Văn Đ D chạy đến ôm lại, can ngăn, đưa lên nhà; T và L được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện huyện Q.
Hậu quả: Ngô Trọng T bị thương rách da phần mềm ở lưng và gãy ngón tay áp út bên phải, điều trị tại Bệnh viện huyện Q từ ngày 01/8/2023 đến 11/8/2023. Lê Đình L bị gãy 1/3 giữa xương đùi chân phải, điều trị tại Bệnh viện T3 - cơ sở 2 từ ngày 01/8/2023 đến 08/8/2023.
Tại Kết luận giám định số 372-23/KLTTCT-GÐPY ngày 28/8/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Đình L tại thời điểm giám định là 25% (hai mươi lăm phần trăm). Vật gây, cơ chế hình thành thương tích: tổn thương gãy 1/3 giữa xương đùi phải do vật tày tác động với lực mạnh theo hướng sau ra trước.
Kết luận giám định bổ sung số 464-23/KLTTCT-GĐPY ngày 09/10/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Đình L tại thời điểm giám định là 25% (hai mươi lăm phần trăm).
Tại Kết luận giám định số 373-23/KLTTCT-GÐPY ngày 28/8/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Trọng T tại thời điểm giám định là 7% (bảy phần trăm).
Kết luận giám định bổ sung số 463-23/KLTTCT-GĐPY ngày 09/10/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Trọng T tại thời điểm giám định là 7% (bảy phần trăm).
Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- - 01 đĩa VCD chứa video ghi lại diễn biến vụ án thu giữ tại quán chị M1 (chuyển theo hồ sơ vụ án).
- - 01 con dao bằng kim loại dài 32cm, phần lưỡi dài 20,5cm rộng 5cm, cán dài 11,5cm.
- - 01 cây rựa cong dạng hình câu liêm dài 66cm, lưỡi kim loại dài 34 cm rộng 5cm, phần cán bằng tre tròn dài 32cm.
Ngày 27/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q nhập kho các vật chứng nêu trên theo lệnh nhập kho vật chứng số 22.
Đối với con dao dài khoảng 35cm, lưỡi bằng kim loại dài 25cm, cán nhựa màu xanh dài 10 cm Khơ dùng để chém T, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã truy tìm nhưng không thu giữ được.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hồ Viết K đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho anh Lê Đình L số tiền 15.000.000 đồng, anh Ngô Trọng T 10.000.000 đồng. Cả hai đã nhận đủ số tiền trên, không có ai yêu cầu đền bù thêm gì về dân sự.
Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 03/CT- VKSQĐ ngày 01 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền truy tố bị cáo K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hồ Viết K phạm tội “Cố ý gây thương tích
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo K mức án từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.
-Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng gồm:
- - 01 con dao bằng kim loại dài 32cm, phần lưỡi dài 20,5cm rộng 5cm, cán dài 11,5cm.
- - 01 cây rựa cong dạng hình câu liêm dài 66cm, lưỡi kim loại dài 34 cm rộng 5cm, phần cán bằng tre tròn dài 32cm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hồ Viết K đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho anh Lê Đình L số tiền 15.000.000 đồng và anh Ngô Trọng T 10.000.000 đồng. Cả hai đã nhận đủ số tiền trên, không có ai yêu cầu đền bù thêm gì về dân sự nên không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 01/8/2023 tại đường T, khu vực trước quán nhậu chị Hồ Thị M1 thuộc thôn Đ, xã Q, huyện Q, bị cáo Hồ Viết K đã có hành vi dùng chân đá và đạp vào đùi chân phải của anh Lê Đình L theo hướng từ sau ra trước làm anh L bị gãy 1/3 giữa xương đùi phải với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 25%. Trước khi gây thương tích cho anh L, bị cáo K đã dùng dao gây thương tích cho anh Ngô Trọng T, tiếp tục dí dao vào cổ uy hiếp anh Hồ Viết T1 và dùng dao chém anh Lê H1. Hành vi này diễn ra liên tục, hung hãn chủ động gây sự tấn công xâm phạm thân thể người khác được nhiều người can ngăn nhưng bị cáo K vẫn quyết liệt thực hiện hành vi phạm tội, nên hành vi này của bị cáo có tính chất côn đồ.
Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo K đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền truy tố bị cáo K tại bản cáo trạng số 03/CT- VKSQĐ ngày 01 tháng 02 năm 2024 là có căn cứ pháp luật.
[2] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo K là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do bản tính hung hãn, coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội như trên. Hành vi này của bị cáo là rất nguy hiểm đã xâm hại trực tiếp đến sức khỏe của công dân được Nhà nước bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo K không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo K được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng gồm:
- - 01 con dao bằng kim loại dài 32cm, phần lưỡi dài 20,5cm rộng 5cm, cán dài 11,5cm.
- - 01 cây rựa cong dạng hình câu liêm dài 66cm, lưỡi kim loại dài 34 cm rộng 5cm, phần cán bằng tre tròn dài 32cm.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo K đã tự nguyện bồi thường cho anh L số tiền 15.000.000 đồng, bồi thường cho anhTrí 10.000.000 đồng. Không ai yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong vụ án này, ngoài hành vi cố ý gây thương tích cho anh Lê Đình L thì bị cáo Hồ Viết K còn cùng Hồ Viết K1 có hành vi cố ý gây thương tích cho anh Ngô Trọng T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 7% đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên anh Ngô Trọng T có đơn yêu cầu không khởi tố vụ án hình sự nên Công an huyện Q đã ra quyết định xử phạt hành chính 6.500.000 đồng đối với bị cáo K và K1 về hành vi gây thương tích cho anh T theo quy định pháp luật.
Đối với Hồ Viết K1 sau khi cùng tham gia đánh anh T xong, K1 không tiếp tục tham gia đánh và đã có hành động can ngăn K đánh anh H1, anh L nên K1 không đồng phạm với K về hành vi gây thương tích cho anh L.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra và bản cáo trạng nên các hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[8] Về án phí: Bị cáo K phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Hồ Viết K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Viết K 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ:
- - 01 con dao bằng kim loại dài 32cm, phần lưỡi dài 20,5cm rộng 5cm, cán dài 11,5cm.
- - 01 cây rựa cong dạng hình câu liêm dài 66cm, lưỡi kim loại dài 34 cm rộng 5cm, phần cán bằng tre tròn dài 32cm.
(Các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng giữ cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Điền ngày 23 tháng 02 năm 2024).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hồ Viết K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Lê Tuyết Linh |
Bản án số 06/2024/HS- ST ngày 15/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 06/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khơ 1 năm 3 tháng tù
