TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2024/KDTM-PT
Ngày: 13/5/2024
V/v: Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế và bà Nguyễn Thị Thuỷ
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Vũ Thị Năm, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 03/2024/TLPT-KDTM ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc “tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78 /2024/QĐPT-KDTM ngày 16 tháng 4 năm 2024; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần B
Địa chỉ: Cụm C, ngõ E, đường C, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; đại diện theo pháp luật bà Nguyễn Thị Như H chức vụ Tổng giám đốc, ủy quyền ông Nguyễn Văn T chức vụ: Phó Tổng giám đốc; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Mai Xuân H1; Văn phòng L, Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
Bị đơn: Công ty cổ phần T2
Địa chỉ: Khu đô thị Crown Villas, số 586 đường Cách Mạng Tháng 8, phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; đại diện theo pháp luật bà Vũ Thị Hồng T1; chức vụ Tổng Giám đốc; ủy quyền cho bà Trần Thị H2; chức vụ: Phó Tổng giám đốc và ông Phạm Quang H3; chức vụ: Cán bộ phụ trách; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Công ty cổ phần B trình bày:
Ngày 08/4/2022 Công ty cổ phần B (sau đây gọi tắt là Công ty B) ký Hợp đồng mua bán bê tông số 0804/HĐKT/ST-BTTN và các phụ lục Hợp đồng số 01 ngày 15/4/2022, phụ lục số 02 ngày 16/5/2022, phụ lục số 03 ngày 10/7/2022, phụ lục số 04 ngày 10/11/2022, phụ lục số 05 ngày 21/12/2022, phụ lục số 06 ngày 01/01/2023 với Công ty cổ phần T3 (sau đây gọi tắt là Công ty T3) về việc cung cấp bê tông thương phẩm phục vụ công trình Khu đô thị mới Thái Hưng E, số E đường C, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Công ty B đã thực hiện đúng, đủ mọi điều khoản trong Hợp đồng đã ký kết, nhưng Công ty T3 đã vi phạm điều khoản thanh toán và còn nợ tiền Công ty B.
Công ty T3 đã ký các biên bản đối chiếu công nợ hàng tháng cho Công ty B và cam kết thanh toán dứt điểm nhiều lần nhưng đến nay vẫn chưa trả hết. Công ty B đề nghị Tòa án buộc Công ty T3 trả số tiền nợ gốc là 480.989.550 đồng, tiền lãi phát sinh từ ngày 16/5/2022 đến ngày 19/01/2024 là 333.686.559 đồng, tổng cộng là 814.676.109 đồng.
Bị đơn Công ty T3 trình bày:
Công ty T3 xác định có ký hợp đồng mua bán bê tông và ký các phụ lục hợp đồng với Công ty B để mua bê tông thương phẩm phục vụ thi công công trình như Công ty B đã trình bày.
Công ty T3 xác định chỉ còn nợ Công ty B số tiền gốc 348.622.037 đồng. Hai bên đã ký biên bản đối chiếu công nợ ngày 14/3/2023 xác định Công ty T3 còn nợ công ty B số tiền 1.048.622.037 đồng và đã thanh toán cho Công ty B số tiền 700 triệu đồng theo các giấy báo nợ ngày 29/3/2023, 27/4/2023, 19/5/2023, 20/7/2023 của Ngân hàng Thương mại cổ phần C.
Lý do Công ty T3 chưa thanh toán để yêu cầu Công ty B cùng phối hợp giải quyết các vấn đề lỗi của sản phẩm bê tông như: thiếu số lượng so với thực tế, bê tông bị nứt, thấm.
Tại bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 19/01/2024 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã quyết định:
- Buộc Công ty cổ phần T3 phải trả cho Công ty cổ phần B tổng cộng 396.323.554 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 348.622.037 đồng, tiền lãi là 47.701.517 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần B về yêu cầu Công ty cổ phần T3 trả số tiền nợ gốc 132.367.513 đồng và 285.985.042 đồng tiền lãi.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 30/01/2024 nguyên đơn Công ty B có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Nội dung kháng cáo, nguyên đơn đề nghị xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn khoản tiền mua bán hàng hoá còn thiếu là 480.989.550 đồng và khoản tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày 23/01/2024 là 234.665.570 đồng.
Tại phiên toà phúc thẩm: Bị đơn xuất trình Biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/12/2022, trong đó có khoản giảm trừ khối lượng 132.367.500 đồng. Xác định đến ngày 31/12/2022 còn nợ nguyên đơn số tiền 2.030.753.250 đồng. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền gốc 348.622.037 đồng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn 300.000.000 đồng, còn nợ 48.622.037 đồng.
Nguyên đơn nhất trí khoản tiền gốc như bị đơn xác định còn nợ 48.622.037 đồng. Tiền lãi đề nghị tính theo mức lãi suất 12%/năm theo thời gian tính lãi thoả thuận trong hợp đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm, buộc bị đơn phải trả thêm khoản tiền gốc 48.622.037 đồng và khoản tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm 19/01/2024 theo mức lãi suất 12%/năm theo thời thời gian bắt đầu tính lãi thoả thuận trong hợp đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Nguyên đơn Công ty B kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm hợp lệ được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy:
Về nội dung kháng cáo khoản tiền gốc:
[2] Hợp đồng mua bán bê tông số 0804/HĐKT/ST-BTTN ngày 08/4/2022 và các phụ lục, phụ lục bổ sung từ số 01 đến số 06, giữa Công ty B với Công ty T3 thực hiện từ tháng 4/2022 đến tháng 02/2023. Công ty B đã thực hiện giao hàng hoá là sản phẩm bê tông thương phẩm cho Công ty T3 nhiều lần, Công ty T3 đã thanh toán cho Công ty B nhiều lần.
Ngày 10/01/2023, hai bên lập Biên bản đối chiếu công nợ từ ngày 01/04/2022 đến ngày 31/12/2022. Nội dung: Tính đến hết ngày 31/12/2022 bên B còn phải thanh toán cho bên A số tiền là 2.163.120.767 đồng.
Ngày 31/01/2023, hai bên tiếp tục lập Biên bản đối chiếu công nợ. Nội dung Biên bản thể hiện: Số dư đầu kỳ 31/12/2022 là 2.030.753.250 đồng, tổng cộng giá trị có VAT: 542.238.000 đồng, đã thanh toán: 1.700.000 đồng, số tiền còn phải thanh toán: 872.991.250 đồng. Biên bản này có chênh lệch số dư đầu kỳ thực tế đã chốt tại biên bản đối chiếu công nợ ngày 10/01/2023 là 132.367.517 đồng. Bị đơn xuất trình Biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/12/2022, trong đó có khoản giảm trừ khối lượng 132.367.500 đồng. Vì vậy, xác định số nợ gốc bị đơn còn nợ nguyên đơn 348.622.037 đồng như Toà án cấp sơ thẩm quyết định là có căn cứ. Sau khi xét xử sơ thẩm bị đơn và nguyên đơn đều xác định đã thanh toán cho nhau 300.000.000 đồng tiền gốc. Số nợ gốc bị đơn còn nợ nguyên đơn là 48.622.037 đồng, cần buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn.
Về nội dung kháng cáo khoản tiền lãi:
Về thời điểm tính lãi:
[3] Điểm b Điều 2 Hợp đồng quy định:
“………Trong vòng 15 ngày kể từ ngày hai bên chốt số liệu bên A sẽ thanh toán 95% giá trị tiền hàng theo biên bản đối chiếu công nợ cho bên B. Các tháng tiếp theo 2 bên cũng tiến hành đối chiếu công nợ, bên A thanh toán 5% giá trị tiền hàng tháng cũ + 95% giá trị tiền hàng tháng mới cho bên B...Nếu quá thời hạn thanh toán theo hợp đồng bên A chưa thanh toán cho bên B, thì sẽ phải tính phần lãi suất thanh toán chậm trả theo lãi suất của Ngân hàng TMCC tính với Doanh nghiệp tại thời điểm đó...”.
[4] Công ty T3 vi phạm nghĩa vụ trả tiền và phải trả lãi chậm thanh toán sau 15 ngày tính từ ngày chốt nợ. Toà án cấp sơ thẩm tính lãi từ ngày chốt nợ cuối cùng 14/3/2023 là không đúng với thoả thuận trong hợp đồng.
Về lãi suất và số tiền lãi:
[5] Về lãi suất: Trong Hợp đồng hai bên không thỏa thuận cụ thể việc tính lãi suất chậm trả theo lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần C. Tòa án cấp sơ thẩm thu thập mức lãi suất của 03 Ngân hàng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tại thời điểm xét xử, xác định lãi suất quá hạn 12%/năm để tính khoản tiền chậm thanh toán là đúng. Các đương sự cũng nhất trí đề nghị tính lãi theo mức lãi suất này.
[6] Về số tiền lãi: Tiền lãi chậm thanh toán được tính theo số tiền chậm thanh toán nhân 12% chia cho 365 ngày nhân với số ngày chậm thanh toán theo thoả thuận. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 19/01/2024, số tiền lãi chậm thanh toán Công ty T3 phải chịu tiền lãi là: 204.520.424 đồng.
[7] Về khoản tiền lãi chậm thanh toán sau ngày xét xử sơ thẩm:
Án sơ thẩm xác định Công ty T3 còn phải chịu khoản tiền lãi chậm thanh toán theo mức lãi suất thoả thuận phù hợp với quy định của pháp luật, nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là chưa phù hợp. Trường hợp này cần tuyên buộc Công ty T3 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi trên số nợ gốc theo mức lãi suất 12%/năm kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ.
[8] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Công ty B.
[9] Về án phí:
Án phí sơ thẩm: Công ty T3 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch trên tổng số tiền phải trả cho Công ty B tính đến ngày xét xử sơ thẩm.
Án phí phúc thẩm: Công ty B được chấp nhận một phần kháng cáo, nên không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Hoàn trả Công ty B tạm ứng án phí đã nộp.
Từ những phân tích nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Công ty cổ phần B; sửa bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm 01/2024/KDTM-ST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Áp dụng Điều 50, Điều 55, Điều 306 Luật thương mại, Điều 26 Luật thi hành án Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần B về việc tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hoá với Công ty cổ phần T3.
- Buộc Công ty cổ phần T3 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty cổ phần B khoản tiền mua bán hàng hoá còn thiếu là 48.622.037 đồng và khoản tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm 19/01/2024 là 204.520.424 đồng, tổng cộng là 253.142.461 đồng (Hai trăm năm mươi ba triệu một trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm sáu mươi mốt đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm 19/01/2024, Công ty cổ phần T3 còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi cho Công ty cổ phần B đối với số tiền mua bán hàng hoá còn thiếu theo mức lãi suất 12%/năm cho đến khi thanh toán xong.
- Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
Công ty cổ phần T3 phải chịu 12.657.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Hoàn trả Công ty cổ phần B 17.540.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002046 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
- Án phí phúc thẩm:
Công ty cổ phần B không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm; Hoàn trả Công ty cổ phần B 2.000.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002504 ngày 26/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
- Án phí sơ thẩm:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Hoàng Quý Sửu |
Bản án số 06/2024/KDTM-PT ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 06/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần B về việc tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hoá với Công ty cổ phần T3. 1.1. Buộc Công ty cổ phần T3 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty cổ phần B khoản tiền mua bán hàng hoá còn thiếu là 48.622.037 đồng và khoản tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm 19/01/2024 là 204.520.424 đồng, tổng cộng là 253.142.461 đồng (Hai trăm năm mươi ba triệu một trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm sáu mươi mốt đồng). 1.2. Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm 19/01/2024, Công ty cổ phần T3 còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi cho Công ty cổ phần B đối với số tiền mua bán hàng hoá còn thiếu theo mức lãi suất 12%/năm cho đến khi thanh toán xong.
