Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HNGĐ-PT

Ngày 10 – 05 -2024

“Tranh chấp về chia tài sản chung sau khi ly hôn "

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ

Các Thẩm phánBà Đinh Thị Như Phượng
Ông Phan Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 05 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số: 03/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 02 năm 2024 về việc "Tranh chấp về chia tài sản chung sau khi ly hôn".

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 02/2024/HNGĐ -ST ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai có kháng cáo

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 07/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự :

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L; sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn A, xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai (có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Công A; sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn A, xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai (có mặt).

    Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Nguyễn Công H; sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn A, xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai. (có mặt).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng N – Chi nhánh thị xã A; địa chỉ: A Q, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai.

    Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N: Ông Phan Văn G - Trưởng phòng Khách hàng A1 Chi nhánh thị xã A (có đơn xin xét xử vắng mặt).

  4. Người kháng cáo: Bị đơn là ông Nguyễn Công A

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L trình bày:

Bà L và ông Nguyễn Công A trước đây là vợ chồng, đã ly hôn theo Quyết định số 60/2020/QÐST-HNGĐ ngày 26/6/2020 của Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai. Khi ly hôn, bà L và ông A chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản. Vì bà L và ông A không thỏa thuận được việc chia tài sản chung nên bà L yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung sau khi ly hôn với ông A. Cụ thể như sau:

1- Quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất thuộc thửa đất số 20, tờ bản đồ số 21, diện tích 1.717m² (đất ở 100m², đất trồng cây lâu năm 1.617m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 397080 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 09/9/2013 mang tên Nguyễn Công A và Nguyễn Thị L;

2- Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 21, diện tích 2.200m² đất rừng trồng sản xuất, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 555496 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 28/7/2010 mang tên Nguyễn Công A và Nguyễn Thị L;

3- Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 703569 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 31/12/2012 mang tên Nguyễn Công A và Nguyễn Thị L; các thửa đất số 199, 275a, 184, 185, 186, 200, 201, tờ bản đồ số 16, tổng diện tích 17.345m² đất lúa và đất trồng cây hàng năm khác.

4- Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 590a, tờ bản đồ số 15, diện tích 532,7m² (đất ở 100m², đất trồng cây hàng năm khác 432,7m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 555463 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 28/7/2010 mang tên Nguyễn Công A và Nguyễn Thị L;

5- Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 652456 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 04/8/2008 mang tên Nguyễn Công A và Nguyễn Thị L; các thửa đất số 420, 421, tờ bản đồ số 15 và thửa đất số 275, tờ bản đồ số 16, tổng diện tích 6.958m² đất trồng cây hàng năm khác.

Về nợ chung: Bà L và ông A còn nợ A1 Chi nhánh thị xã A số tiền khoảng 200.000.000đ. Bà L đồng ý chia đôi đối với khoản nợ chung này với ông A.

2. Bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Ông A không đồng ý chia tài sản chung theo yêu cầu của bà L vì muốn để lại cho con. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của ông A đề nghị để lại các tài sản gồm: Quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất thuộc thửa đất số 20, tờ bản đồ số 21, diện tích 1.717m² (đất ở 100m², đất trồng cây lâu năm 1.617m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 397080 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 09/9/2013; Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 590a, tờ bản đồ số 15, diện tích 532,7m² (đất ở 100m², đất trồng cây hàng năm khác 432,7m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 555463 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 28/7/2010 và Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 21, diện tích 2.200m² đất rừng trồng sản xuất, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 555496 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 28/7/2010, cho các con. Còn lại các tài sản khác chia theo pháp luật.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng N Chi nhánh thị xã A trình bày:

Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Công A có nợ vay của A1 Chi nhánh thị xã A (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) số tiền gốc khoảng 200.000.000đ, không có làm thủ tục thế chấp tài sản. Bà L và ông A thực hiện trả nợ đúng kỳ hạn và trả lãi đều hàng tháng nên Ngân hàng không khởi kiện yêu cầu trả nợ. Nếu sau này đến hạn trả nợ mà bà L và ông A không trả thì Ngân hàng sẽ khởi kiện đòi nợ độc lập bằng vụ án khác.

4. Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 02/2024/HNGĐ - ST ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 157, 158, 165, 166, 235, 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 213, 219 của Bộ luật Dân sự; các Điều 33, 37, 59, 60 và 62 của Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 95, 99 và 100 của Luật đất đai năm 2013; điểm b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.

-Tổng giá trị tài sản chung được chia là: 826.201.500đ. Tài sản chung được chia đôi cho bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Công A, mỗi người được nhận tương ứng với ½ giá trị. Bà L yêu cầu được nhận tài sản bằng hiện vật với tổng giá trị là: 375.364.500đ, ông A được chia tài sản bằng hiện vật với tổng giá trị là: 450.837.000đ, bà L không yêu cầu ông A phải thanh toán số tiền chênh lệch.

+ Chia cho bà L quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 590a, tờ bản đồ số 15, diện tích 532,7m² (đất ở 100m², đất trồng cây hàng năm khác 432,7m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 555463 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 28/7/2010, giá trị là 68.352.000đ.

+ Chia cho bà L quyền sử dụng các thửa đất số 199, diện tích 10.533m²; thửa đất số 184, diện tích 518m²; thửa đất số 185, diện tích 769m²; thửa đất số 186, diện tích 755m²; thửa đất số 200, diện tích 425m²; thửa đất số 201, diện tích 645m²; thuộc tờ bản đồ số 16 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 703569 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 31/12/2012, giá trị là 307.012.500đ.

Bà Nguyễn Thị L có quyền đăng ký kê khai để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

+ Chia cho ông A quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 20, tờ bản đồ số 21, diện tích 1.717m² (đất ở 100m², đất trồng cây lâu năm 1.617m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 397080 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 09/9/2013, giá trị là: 161.532.000đ.

+ Chia cho ông A quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 21, diện tích 2.200m² đất rừng trồng sản xuất, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 555496 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 28/7/2010, giá trị là: 49.500.000đ.

+ Chia cho ông A quyền sử dụng các thửa đất số 420, tờ bản đồ số 15, diện tích 208m²; thửa đất số 421, tờ bản đồ số 15, diện tích 339m²; thửa đất số 275, tờ bản đồ số 16, diện tích 6.411m²; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 652456 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 04/8/2008, trị giá là: 156.555.000đồng.

+ Chia cho ông A quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 275a, tờ bản đồ số 16, diện tích 3.700m² đất trồng cây hàng năm khác, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 703569 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 31/12/2012, trị giá là: 83.250.000đ.

Ông Nguyễn Công A có quyền đăng ký kê khai để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ chịu tiền chi phí tố tụng, thông báo quyền thoả thuận, quyền yêu cầu, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án; tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 23 tháng 01 năm 2024, bị đơn là ông Nguyễn Công A kháng cáo yêu cầu:

  • Chia cho ông thửa đất số 199, diện tích 10.533m², thuộc tờ bản đồ số 16 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 703569 vì trên thửa đất này có các phần mộ của gia đình ông.
  • Trên thực tế thửa đất số 420, 421 không có nên việc Tòa án cấp sơ thẩm chia cho ông là không đảm bảo công bằng.
  • Ông A là người nông dân nhưng Tòa án lại giao 05 thửa đất trồng lúa nước số 184, 185, 186, 200, 201 cho bà L là không hợp lý vì ông không có đất để canh tác.
  • Ông A yêu cầu bà L phải cấp dưỡng nuôi anh Nguyễn Công H1 mỗi tháng là 3.000.000 đồng cho đến khi anh H1 đủ 18 tuổi.

5. Tại phiên toà phúc thẩm:

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên án sơ thẩm.

Bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Nguyễn Công H giữ nguyên kháng cáo.

Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

6. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Công A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định về việc giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm và yêu cầu kháng cáo như sau:

1.Về tố tụng: Nguyên đơn yêu cầu chia tài sản chung và giải quyết nợ chung theo đó Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa Ngân hàng N – Chi nhánh thị xã A vào tham gia tố tụng với tư cách là ngưới có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Căn cứ theo Điều 84 của Bộ luật Dân sự thì chi nhánh, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại xác định Ngân hàng N – Chi nhánh thị xã A là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chứ không phải là Ngân hàng N là không đúng quy định vi phạm tố tụng. Tuy nhiên, Ngân hàng N Chi nhánh thị xã A không có yêu cầu độc lập. Việc vay mượn tiền của ông A, bà L sẽ được Ngân hàng khởi kiện trong một vụ án khác. Vì vậy, tuy Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của các đương sự trong vụ án nên Tòa án cấp phúc thẩm không hủy bản án mà đề nghị Tòa án cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự trong vụ án.

2. Về nội dung:

2.1. Về xác định tài sản chung:

Tòa án cấp sơ thẩm xác định các tài sản sau:

  • Quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất thuộc thửa đất số 20, tờ bản đồ số 21, diện tích 1.717m² (đất ở 100m², đất trồng cây lâu năm 1.617m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 397080 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 09/9/2013 mang tên Nguyễn Công A và Nguyễn Thị L;
  • Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 21, diện tích 2.200m² đất rừng trồng sản xuất, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 555496 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 28/7/2010 mang tên Nguyễn Công A và Nguyễn Thị L;
  • Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 703569 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 31/12/2012 mang tên Nguyễn Công A và Nguyễn Thị L; các thửa đất số 199, 275a, 184, 185, 186, 200, 201, tờ bản đồ số 16, tổng diện tích 17.345m² đất lúa và đất trồng cây hàng năm khác.
  • Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 590a, tờ bản đồ số 15, diện tích 532,7m² (đất ở 100m², đất trồng cây hàng năm khác 432,7m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 555463 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 28/7/2010 mang tên Nguyễn Công A và Nguyễn Thị L;
  • Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 652456 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 04/8/2008 mang tên Nguyễn Công A và Nguyễn Thị L; các thửa đất số 420, 421, tờ bản đồ số 15 và thửa đất số 275, tờ bản đồ số 16, tổng diện tích 6.958m² đất trồng cây hàng năm khác.

Là tài sản chung của vợ chồng là có căn cứ vì các tài sản này được hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Tất cả các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên đều đứng tên của ông Nguyễn Công A và bà Nguyễn Thị L.

2.2. Chia tài sản chung

Bị đơn kháng cáo cho rằng thửa đất số 420, 421 không có trên thực tế nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại chia cho bị đơn là không đúng. Thấy rằng, tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 27-10-2023 xác định thửa đất số 420, 421 thuộc tờ bản đồ số 15 nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 652456 có diện tích là 208m² và 339m². Tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ ngày 27-10-2023 ông A cũng có mặt nhưng không có ý kiến gì. Ngoài ra, Tại phiên tòa bà L có cung cấp hai giấy chứng nhận quyền sử dụng nêu trên thể hiện việc bà không có bán hai thửa đất trên cho người khác. Do đó, kháng cáo của ông A cho rằng thửa đất số 420, 421 không có trên thực tế là không có căn cứ.

Ông A cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm giao 5 thửa đất trồng lúa số 184, 185, 186, 200, 201 cho bà L là không thỏa đáng vì ông là người nông dân mà sống không có đất trồng lúa thì không thể canh tác, sản xuất để sinh sống. Thấy rằng, cũng tại đơn kháng cáo ông trình bày ông là người bị bệnh (tâm thần phân liệt) hiện đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng của nhà nước. Như vậy, ông A không thể canh tác sản suất trồng lúa được. Việc ông A xin nhận các thửa đất trồng lúa này để cho con của ông A, bà L canh tác. Thấy rằng, đây là tài sản chung của hai vợ chồng không liên quan đến con của ông A nên kháng cáo nêu trên của ông A là kông có căn cứ để chấp nhận.

Đối với kháng cáo của ông A xin được nhận thửa đất số 199 thấy rằng trong qúa trình chia tài sản chung tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét chia tài sản đồng đều với nhu cầu sử dụng của ông A, bà L. Theo đó, ông A, bà L đều được nhận những phần đất có đất ở, đất trồng cây lâu năm hoặc đất trồng lúa. Tòa án cấp sơ thẩm chia thửa đất số 199 nằm liền kề với các thửa đất số 184, 185, 186, 200, 201 đã chia cho bà L là phù hợp, thuận tiện cho việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, tại phiên tòa bà L đồng ý cắt một phần đất nằm trong thửa đất số 199 trong đó có phần mộ của gia đình ông A để ông A được thuận tiện trọng việc thờ cún, chăm sóc phần mộ gia đình.

Hơn nữa, giá trị tài sản mà bà L được nhận có giá trị thấp hơn so với giá trị tài sản mà ông A được nhận nhưng bà L không yêu cầu ông A phải thanh toán lại phần chênh lệch. Do đó, những kháng cáo nêu trên của ông A là không có căn cứ.

Đối với kháng cáo của ông A về việc bà L phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi anh H1 mỗi tháng 3 triệu đồng cho đến khi anh H1 trưởng thành và sống tự lập được. Thấy rằng, tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số: 60/2020/QÐST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã An Khê đã giao anh Nguyễn Công H1 cho bà L nuôi dưỡng ông A không phải là người trực tiếp nuôi con. Vì vậy, việc ông A yêu cầu bà L phải cấp dưỡng nuôi con thì ông A phải yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người nuôi con trước nếu được tòa án chấp nhận thì ông A mới có quyền yêu cầu L cấp dưỡng nuôi con. Do đó, kháng cáo của ông A về vấn đề cấp dưỡng nuôi con là không có căn cứ.

3. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Hội đồng xét xử phúc thẩm giữa nguyên bản án dân sự sơ thẩm nên người kháng cáo phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Điều luật áp dụng:

  • Căn cứ khoản 1 điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ điểm b khoản 5 Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Áp dụng Điều 213, Điều 219 của Bộ luật Dân sự;
  • Áp dụng Điều 33, Điều 37, Điều 59, Điều 60 và Điều 62 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • Áp dụng Điều 95, Điều 99 và Điều 100 của Luật đất đai năm 2013

2. Tuyên xử :

2.1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Công A; giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 02/2024/HNGĐ -ST ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.

2.2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.

- Tổng giá trị tài sản chung được chia là: 826.201.500đ. Tài sản chung được chia đôi cho bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Công A, mỗi người được nhận tương ứng với ½ giá trị. Bà L yêu cầu được nhận tài sản bằng hiện vật với tổng giá trị là: 375.364.500đ, ông A được chia tài sản bằng hiện vật với tổng giá trị là: 450.837.000đ, bà L không yêu cầu ông A phải thanh toán số tiền chênh lệch.

- Chia cho bà L quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 590a, tờ bản đồ số 15, diện tích 532,7m² (đất ở 100m², đất trồng cây hàng năm khác 432,7m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 555463 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 28/7/2010, giá trị là 68.352.000đ.

- Chia cho bà L quyền sử dụng các thửa đất số 199, diện tích 10.533m²; thửa đất số 184, diện tích 518m²; thửa đất số 185, diện tích 769m²; thửa đất số 186, diện tích 755m²; thửa đất số 200, diện tích 425m²; thửa đất số 201, diện tích 645m²; thuộc tờ bản đồ số 16 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 703569 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 31/12/2012, giá trị là 307.012.500đ.

Bà Nguyễn Thị L có quyền đăng ký kê khai để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Có sơ đồ kèm theo).

- Chia cho ông A quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 20, tờ bản đồ số 21, diện tích 1.717m² (đất ở 100m², đất trồng cây lâu năm 1.617m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 397080 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 09/9/2013, giá trị là: 161.532.000đ.

- Chia cho ông A quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 21, diện tích 2.200m² đất rừng trồng sản xuất, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 555496 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 28/7/2010, giá trị là: 49.500.000đ.

- Chia cho ông A quyền sử dụng các thửa đất số 420, tờ bản đồ số 15, diện tích 208m²; thửa đất số 421, tờ bản đồ số 15, diện tích 339m²; thửa đất số 275, tờ bản đồ số 16, diện tích 6.411m²; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 652456 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 04/8/2008, trị giá là: 156.555.000đồng.

- Chia cho ông A quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 275a, tờ bản đồ số 16, diện tích 3.700m² đất trồng cây hàng năm khác, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 703569 do Ủy ban nhân dân thị xã A cấp ngày 31/12/2012, trị giá là: 83.250.000đ.

Ông Nguyễn Công A có quyền đăng ký kê khai để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Có sơ đồ kèm theo).

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Tổng cộng là 5.000.000đ. Bà L tự nguyện chịu số tiền 5.000.000đ, bà L đã nộp đủ số tiền 5.000.000₫ nên ông A không phải hoàn trả lại cho bà L.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L phải chịu số tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 18.768.225đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 6.750.000đ theo biên lai số 0011819 ngày 13/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai; bà L còn phải nộp 12.018.225đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Ông Nguyễn Công A phải chịu số tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là: 22.033.480đ.

3. Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm:

Ông Nguyễn Công A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0012960 ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai. Ông Nguyễn Công A đã nộp xong.

4.Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy dịnh tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND thị xã A;
  • - VKSND thị xã A;
  • - Chi cục THA dân sự thị xã A;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Toà GĐ&CTN, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Nguyễn Tiến Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HNGĐ-PT ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp về chia tài sản chung sau khi ly hôn

  • Số bản án: 06/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chia tài sản sau ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger