Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BỈM SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HS-ST

Ngày: 10 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Sang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Văn Thoa

2. Ông Nguyễn Quốc Sáu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyên Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lê Huyền Diệu – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Đặng Đức H, giới tính: nam; sinh ngày 22 tháng 12 năm 1979, tại B, Thanh Hóa; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: khu phố C, phường N, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo tin lành; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Đặng Chiến K (đã chết), con bà: Phạm Thị O, bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H1, sinh năm 1995 và 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, Tiền sự: không.

* Nhân thân: Ngày 20/6/2006, bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).

2. Lại Thế T, giới tính: nam; sinh ngày 05 tháng 4 năm 1978, tại H, Thanh Hóa; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Số I, đường N, khu F, phường N, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Lại Thế H2 (đã chết), con bà: Phạm Thị C; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, Tiền sự: Không

*Nhân thân:

- Ngày 13/7/2004, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 42 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và 24 tháng tù về tội “Chiếm đoạt chất ma túy”.

- Ngày 28/10/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Ngày 30/8/2013, bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Ngày 19/6/2009, bị Công an xã Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng ma túy”. Hình thức phạt tiền.

- Ngày 12/7/2001, bị Công an thị xã B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bài ăn tiền”. Hình thức phạt tiền.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).

- Người chứng kiến: anh Vũ Hải T1, sinh năm 1974

Địa chỉ: khu phố C, phường N, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 10 ngày 30/9/2023, Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thị xã B phối hợp cùng Công an phường N trạo đang làm nhiệm vụ tại đường T thuộc khu phố C, phường N, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa phát hiện Lại Thế T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda SH, màu đen, BKS: 36F5-166.38, ngồi sau là Đặng Đức H có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, Đặng Đức H đã tự nguyện giao nộp 01 (một) túi nilon màu trắng, viền màu cam, kích thước khoảng (5x7)cm bên trong túi có chứa các hạt tinh thể màu trắng, dạng đá. H và T đều khai nhận gói ma túy dạng đá bị lực lượng Công an thu giữ là ma túy của H và T vừa mua của người nam giới tên T1 ở khu vực cầu vượt L thuộc xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định với giá 9.000.000 đồng. Mục đích mua về để chia nhỏ bán kiếm lời. Tổ công tác đã tiến hành mời người chứng kiến, đưa H và T cùng tang vật thu giữ về trụ sở Công an lập biên bản phạm pháp quả tang và niêm phong tang vật theo quy định của pháp luật.

*Tài sản và vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 (một) túi nilon màu trắng, viền màu cam, kích thước khoảng (5x7)cm, bên trong túi có chứa các hạt tinh thể màu trắng, dạng đá (có biên bản niêm phong kèm theo).
  • 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH màu đen, BKS: 36F5 – 166.38, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, loại bàn phím, bên trong có sim số: 0396.109.566 và 0859.441777, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại màn hình cảm ứng, màu tím đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0842.600.777, đã qua sử dụng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật, tài sản của Đặng Đức H và Lại Thế T không phát hiện và thu giữ được gì.

Ngày 30/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã B ra Quyết định trưng cầu giám định số 152/QĐ-CSĐT, giám định chất ma túy đối với tang vật thu giữ.

Tại bản Kết luận giám định số 3511/KL-KTHS ngày 03/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:

- Các hạt tinh thể màu trắng, dạng đá của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng (trọng lượng) 9,997g (chín phẩy chín chín bảy gam) loại: Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, H và T khai nhận: Ngày 28/9/2023 và 29/9/2023, H và T đã gặp nhau để trao đổi, bàn bạc về việc mua ma túy về chia nhỏ bán kiếm lời. H là người nảy sinh ý định bán ma túy để kiếm lời, nhưng không có tiền, cũng không biết bán ma túy cho ai nên đã hỏi vay tiền T và nhờ T tìm người mua ma túy để bán, T đồng ý.

Khoảng 08 giờ ngày 30/9/2023, T nói với H là đã vay được tiền và rủ H đi Nam định để mua ma túy, T sử dụng điện thoại số sim 0842.600.xxx gọi cho người nam giới tên T1 số điện thoại: 0818.988.xxx hỏi mua ma túy. Người này đồng ý và hẹn “khi nào ra đến nơi thì gọi anh” do trước đó T đã một lần mua ma túy của người đàn ông này để sử dụng và đã sử dụng hết (không nhớ rõ thời gian và số lượng cụ thể) nên đã biết điểm hẹn mua ma túy là tại khu vực gần chân cầu vượt L, xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Khoảng 10 giờ ngày 30/9/2023, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda SH màu đen, BKS: 36F5- 166.38 đến nhà đón H. H là người điểu khiển xe còn T ngồi phía sau, theo chỉ dẫn của Tới cả hai đi đến gần chân cầu vượt L thuộc thành phố N. Khi gần đến nơi thì T1 gọi vào số điện thoại của T hỏi đi đến đâu, T trả lời: “đến chân cầu vượt rồi”, T1 nói “chờ đấy”. T và H ra quán nước dưới chân cầu ngồi uống nước. Lúc này, T lấy trong người ra số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng) đưa cho H. Khoảng vài phút sau, T1 lại gọi đến số điện thoại của T và nói: “đi qua chân cầu đi”. Tới ngồi phía trước điều khiển xe còn H ngồi phía sau, khi cả hai đi qua chân cầu vượt khoảng 30-40m về phía thành phố N thì thấy 01 người nam giới khoảng 40 tuổi đang ngồi trên xe máy, theo chỉ dẫn thì T biết đây là T1 nên dừng xe lại. H đưa cho T1 số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng), rồi nhận lại từ T1 01 một bọc giấy vệ sinh có đựng một túi nilon chứa ma túy dạng đá bên trong. Sau đó, T điều khiển xe chở H đi về thị xã B. Khi về đến đường T thuộc khu phố C, phường N, thì bị Tổ Công tác của Công an thị xã B kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSBS ngày 28/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn truy tố Đặng Đức H và Lại Thế T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy".

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Đặng Đức H và Lại Thế T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm i khoản 2 điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 Bộ luật hình xử phạt Đặng Đức H từ 08 năm 03 tháng đến 08 năm 06 tháng tù
  • Áp dụng điểm i khoản 2 điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 38 Bộ luật hình xử phạt Lại Thế T từ 08 năm đến 08 năm 03 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo V xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định;

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, loại bàn phím, bên trong có sim số: 0396.109.566 và 0859.441.777, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại màn hình cảm ứng, màu tím đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0842.600.777.

Về án phí: đề nghị buộc các bị cáo Đặng Đức H và Lại Thế T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu được, kết luận giám định,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, điều tra viên; VKSND thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai tại phiên tòa, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 30/9/2023, tại đường T, khu phố C, phường N, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thị xã B phối hợp với Công an phường N làm nhiệm vụ, phát hiện bắt quả tang Đặng Đức H và Lại Thế T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng là 9,997g (chín phẩy chín chín bảy gam) loại: Methamphetamine nhằm mục đích bán trái phép cho người khác, nhưng chưa kịp bán thì bị bắt.

Đối chiếu với quy định của Bộ luật hình sự, hành vi nêu trên của Đặng Đức H và Lại Thế T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn truy tố các bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.

[3] Xét tính chất vụ án:

Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nơi xảy ra tội phạm. Do đó, cần xét xử các bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Trong vụ án có hai bị cáo cùng tham gia, mặc dù trước khi phạm tội hai bị cáo có gặp nhau và trao đổi với nhau về việc mua bán ma túy. Tuy nhiên, các bị cáo không có sự phân công vai trò trong vụ án mà một trong hai bị cáo khởi sướng là cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, nên không phải là phạm tội có tổ chức mà đồng phạm giản đơn.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Cả hai bị cáo H và T đều có chung một tình tiết giảm nhẹ là quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo T còn có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS đó là: có mẹ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì.

Vì vậy, khi lượng hình HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được đường lối chính sách của pháp luật Nhà nước, từ đó cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có tài sản, thu nhập, bản thân phải chấp hành hình phạt tù nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng:

Cơ quan điều tra thu giữ 01 (một) túi nilon màu trắng, viền màu cam, kích thước khoảng (5x7)cm, bên trong túi có chứa các hạt tinh thể màu trắng, dạng đá có tổng khối lượng (trọng lượng) 9,997g (chín phẩy chín chín bảy gam) loại: Methamphetamine. Vật chứng này là vật loại thuộc Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy;

01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, loại bàn phím, bên trong có sim số: 0396.109.566 và 0859.441.777, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại màn hình cảm ứng, màu tím đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0842.600.777 là điện thoại các bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước;

Như vậy là phù hợp với quy định tại điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về những vấn đề khác:

*Về nguồn gốc chất ma túy: Theo lời khai của H và T, cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh chủ thuê bao số 0818.988.429 là Trần Quốc T2, sinh năm 1981, trú tại 7 Điện Biên, phường C, TP N, tỉnh Nam Định. Hiện nay, T2 không có mặt tại địa phương, chính quyền và gia đình không biết T2 đi đâu, làm gì. Việc giao dịch mua bán ma túy giữa H, T và T2 bằng hình thức trả tiền mặt. Tiến hành nhận dạng qua ảnh nhưng cả H và T đều không nhận ra ai người đã bán ma túy cho mình. Xung quanh khu vực chân cầu vượt L không có camera. Do đó, chưa có đủ căn cứ để xác định người bán ma túy cho H và T. Cơ quan CSĐT sẽ tiếp tục điều tra, nếu có căn cứ sẽ xem xét, xử lý sau.

Đối với các tài sản, đồ vật thu giữ không liên quan đến vụ án, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, gồm:

Đối với 01 chiếc xe mô tô BKS 36F5- 166.38 mà T và H dùng làm phương tiện đi mua ma túy ngày 30/9/2023 là tài sản của chị Lại Thị H3, sinh năm 1973, trú tại: khu phố E, phường B, thị xã B (là chị gái của Lại Thế T), cho T mượn để làm phương tiện đi lại. Việc T sử dụng xe để đi mua ma túy, chị H3 không biết. Quá trình điều tra xác định: xe mô tô không phải là tang vật của vụ án nào, có nguồn gốc rõ ràng, hợp pháp, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Lại Thị H3, chị H3 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm. Nên miễn xét.

[9] Bị cáo Đặng Đức H và Lại Thế T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo được kháng cáo bản án theo điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào điểm i khoản 2 điều 251, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự (Đối với bị cáo H);
  • Căn cứ vào điểm i khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự (Đối với bị cáo T).

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Đức HLại Thế T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Đặng Đức H 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/9/2023.

Xử phạt: Lại Thế Tới 08(Tám) năm 03(Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/9/2023.

Về vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu, tiêu hủy: 9,459 g (chín phẩy bốn năm chín gam) các hạt tinh thể màu trắng dạng đá (mẫu vật còn lại sau giám định); tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành;

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 ĐTDĐ Nokia, màu đen, loại bàn phím, đã cũ, bên trong có 02 sim, không kiểm tra chất lượng bên trong và 01 ĐTDĐ Sam sung, màu tím, loại màn hình cảm ứng, đã cũ, bên trong có 01 sim, không kiểm tra chất lượng bên trong.

(Theo theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 28/12/2023 giữa Cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bỉm Sơn).

* Án phí: áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng áp phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Đặng Đức HLại Thế T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo Đặng Đức HLại Thế T có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/01/2024.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thị xã Bỉm Sơn;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS thị xã Bỉm Sơn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Bỉm Sơn;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Trung;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Xuân Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 06/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các bị cáo Hạnh,Tới phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger