TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 06/2024/HSST Ngày: 10-01-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
—————————
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tống Thị Kim Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kim Chung
Bà Trần Thị Ánh Tuyết
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Nam - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 324/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 324/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Tiến Đ; sinh năm 1987; giới tính: Nam; nơi sinh: tỉnh Nam Định; căn cước công dân sô [...] ngày 13-5-2023 do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp; nơi cư trú: tổ A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 6/12; con ông Vũ Hồng H và bà Cao Thị L; vợ Phan Thị T, sinh năm 1985; có 02 con; tiền án: ngày 03-6-2021, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 1 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành án xong ngày 03-3-2022); tiền sự: Không; nhân thân: ngày 13-3-2007, Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử phạt 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản”; ngày 15-6-2012, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 38 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; ngày 23-01-2015, Công an phường C, thành phố N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 12-10-2020, Công an huyện N, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/10/2023, chuyển tạm giam ngày 21/10/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
1
Người làm chứng: Anh Trần Văn Đ1 và anh Vũ Đình T1 (không triệu tập tham gia phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 12-10-2023, tổ công tác Công an phường N, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngã ba đường L lối rẽ vào gầm cầu Đ, xã N, thành phố N phát hiện Vũ Tiến Đ điều khiển xe máy biển kiểm soát 59P2-217.66 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, thu giữ trong túi quần phía trước bên trái Đ đang mặc 01 gói giấy ăn màu trắng, bên trong có 01 gói giấy màu trắng xanh, trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (Đ khai là gói Heroine được bạn cho để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vũ Tiến Đ. Ngoài ra, tạm giữ của Đ 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 59P2-217.66.
Bản kết luận giám định số 1538/KLKTHS ngày 18-10-2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy màu trắng xanh (gói giấy màu trắng xanh được gói trong 01 giấy ăn màu trắng) được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu: 0,129 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Tiến Đ khai nhận: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 10-10-2023, Đ điều khiển xe máy BKS 59P2-217.66 từ nhà lên thành phố N gặp một người bạn xã hội tên P (không rõ lai lịch, địa chỉ) ở khu vực gầm cầu Đ, xã N, thành phố N xin 01 gói Heroine. P đồng ý và đưa cho Đ 01 gói Heroine. Đ mang gói Heroine về nhà cất giữ. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 12-10-2023 Đ mang gói Heroine để ở trong túi quần phía trước bên trái đang mặc, tìm nơi sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N phối hợp với Công an xã N, thành phố N xác minh đối tượng tên P là người cho Đ 01 gói Heroine ở khu vực gầm cầu Đ, thành phố N. Kết quả xác minh không có đối tượng nào tên P có đặc điểm như Đ khai nên Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Bản cáo trạng số 03/CT-VKSND-TPNĐ ngày 20-12-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Vũ Tiến Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Vũ Tiến Đ khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Vũ Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Vũ Tiến Đ từ 27 tháng đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng đã thu giữ.
2
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an phường N, thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Tiến Đ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ lời khai của bị cáo Vũ Tiến Đ trong quá trình điều tra và tại phiên toà, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định số 1538/KLKTHS ngày 18-10-2023 của Phòng K Công an tỉnh N cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 12-10-2023, tại khu vực đầu ngã ba đường L lối rẽ vào gầm cầu Đ, xã N, thành phố N Vũ Tiến Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,129 gam Heroine mục đích để sử dụng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước ta. Lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án bị kết án chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
3
Bị cáo Vũ Tiến Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là loại chất gây nghiện Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; hành vi của bị cáo là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Vũ Tiến Đ không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
[6] Chiếc xe máy biển kiểm soát 59P2-217.66 là tài sản của bà Cao Thị L, bà Cao Thị L không biết Đ mượn xe đi xin ma túy sử dụng. Hiện chưa rõ nguồn gốc xe nên Cơ quan điều tra tách ra xử lý sau.
[7] Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo Vũ Tiến Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Tuyên bố bị cáo Vũ Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 1538/KLKTHS ngày 18-10-2023 (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 26-12-2023).
- Án phí: Bị cáo Vũ Tiến Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Vũ Tiến Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Vũ Tiến Đ 02 năm 06 tháng (Hai năm sáu tháng) tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 12-10-2023.
4
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
|
5
Bản án số 06/2024/HSST ngày 10/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 06/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
