Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HS-ST

Ngày 10/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thu Hà và ông Ngô Minh Hoan.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Tô Tuấn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 180/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Họ tên Đặng Văn T, sinh ngày 29 tháng 5 năm 1986, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn B Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; Con ông Đặng Văn T1, sinh năm 1959 và bà Đỗ Thị R, sinh năm 1956. Có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1990. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012. Hiện trú tại thôn B Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 30/4/2023 đến ngày 06/5/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

  2. Họ tên Nguyễn Chiến T2, sinh ngày 07 tháng 9 năm 1990, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn L, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình.; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Đức M, sinh năm 1964 và bà Đoàn Thị S, sinh năm 1969. Vợ: Đoàn Thị N, sinh năm 1991. Bị cáo có 02 con: con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019. Hiện đang sinh sống tại thôn L, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 30/4/2023 đến ngày 06/5/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

  3. Họ tên Vũ Thị O, sinh ngày 20 tháng 01 năm 1992, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; Con ông Vũ Đức T3, sinh năm 1965 và bà Trần Thị Đ, sinh năm 1968. Có chồng Bùi Ngọc D, sinh năm 1987, hiện đang chấp hành án tại trại giam N1. Bị cáo có 01 con sinh năm 2012. Hiện đang sống tại thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 30/4/2023 đến ngày 06/5/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

  4. Họ tên Bùi Thị H, sinh ngày 05 tháng 01 năm 1991, tại: huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; Con ông Bùi Đình H1, sinh năm 1963 và bà Trần Thị M1, sinh năm 1966; Có chồng: Lê Thành T4, sinh năm 1980. Hiện đang sinh sống tại thành phố Hà Nội. Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 30/4/2023 đến ngày 06/5/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

  5. Họ tên Trần Thị Hồng L1, sinh ngày 04 tháng 3 năm 1991, tại: huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Văn T5 (đã chết); mẹ đẻ bà Trần Thị H2, sinh năm 1967; Có chồng: Đào Trọng L2, sinh năm 1986. Hiện đang làm việc tại Đài Loan. Bị cáo có 01 con sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 30/4/2023 đến ngày 06/5/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

  6. Họ tên Lê Ngọc M2, sinh ngày 14 tháng 9 năm 1992, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn L, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lê Ngọc H3, sinh năm 1960 và bà Đoàn Thị P, sinh năm 1958. Vợ: Nguyễn Thị L3, sinh năm 1991, có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2021. Hiện đang sinh sống tại xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Năm 2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 08 năm tù về tội Cướp tài sản theo Bản án số 18/2010/HSST ngày 13/5/2010, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2016 và chấp hành xong phần dân sự của bản án, đến nay đã được xoá án tích. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/8/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Thái Bình.

(06 bị cáo được dẫn giải có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Bùi Văn T6, sinh năm 1990, trú tại thôn V, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình; bà Vũ Mai P1, sinh năm 1976, trú tại tổ dân phố số A, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Đều vắng mặt)

Ông Nguyễn Đức M, sinh năm 1965, trú tại thôn L, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình (có mặt)

Người chứng kiến:

Anh Đinh Công D1, sinh năm 1984 và ông Bùi Văn T7, sinh năm 1963 đều trú tại thôn Đ, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình(Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 29/4/2023, Đặng Văn T, Nguyễn Chiến T2, Bùi Thị HVũ Thị O cùng ngồi ăn tại quán B thuộc thôn Đ, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình do Nguyễn Chiến T2 làm chủ, trong khi ăn T nói với T2, OH: “Tối anh em mình làm bữa tổng kết, từ nay không chơi bời gì nữa”, mọi người đều hiểu ý của T là tối cùng sử dụng ma túy với nhau. Sau đó, TO sử dụng tài khoản Zalo và F nhắn tin cho Trần Thị Hồng L1 rủ L1 đến quán bia của T2 chơi và cùng nhau sử dụng ma túy, L1 đồng ý. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày T thuê taxi đi đón L1 đến quán bia của T2 rồi T đi về nhà. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, H thuê taxi đi đón bạn là Bùi Văn T6 đến quán bia của T2 mục đích để ăn tối, khi mọi người chuẩn bị ăn cơm thì T đến. Trong quá trình ăn, uống với nhau thì T, O, H, L1, T6 không bàn bạc, nói chuyện gì liên quan đến việc sử dụng ma túy. Thời điểm này T2 đi dự đám cưới của người quen nên không có nhà, sau khi ăn uống xong thì tất cả vẫn ở quán bia đợi T2 về, đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T2 về quán thì gặp T, H, L1 đang ngồi ở sân sau, T2 bảo: “Giờ hết tiền, ai có tiền mỗi người góp một ít”, hiểu là góp tiền đi mua ma tuý nên H đưa cho T2 1.500.000 đồng; L1 đưa cho T2 1.400.000 đồng; T đưa cho T2 200.000 đồng tiền mặt, và chuyển khoản cho T2 200.000 đồng từ số tài khoản 030081052782 tại ngân hàng S1 đến số tài khoản 12210001984239 tại ngân hàng B1 chủ tài khoản Nguyễn Chiến T2. Sau đó T2 vào phòng ngủ bảo O góp tiền mua ma tuý, O đồng ý và chuyển số tiền 1.000.000 đồng từ số tài khoản của mình 1920194996509 tại ngân hàng M3 đến số tài khoản 12210001984239 của Nguyễn Chiến T2, lúc này T6 đi ra ngoài sử dụng điện thoại nên không tham gia góp tiền và không biết mọi người góp tiền để mua ma túy.

Sau khi được H, L1, T, O góp tiền mua ma túy và cả tiền của bản thân trong tài khoản có 100.000 đồng được tổng số tiền là 4.400.000 đồng thì T2 gọi điện qua ứng dụng messenger cho Lê Ngọc M2 để mua ma tuý. T2 nói với M2 là muốn mua 03 viên thuốc lắc và 02 chỉ ketamine; M2 báo giá 400.000 đồng/01 viên thuốc lắc và 2.000.000 đồng/01 chỉ Ketamine, tổng tiền là 5.200.000 đồng.

3

T2 đồng ý và chuyển khoản trước cho M2 1.300.000 đồng từ số tài khoản của mình đến số tài khoản 1031703945 ngân hàng V mang tên Vũ Mai P1 (M2 đang sử dụng), sau đó T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17K4-9022 một mình đi từ quán B2 quán đến nhà M2 để mua ma tuý, hai người gặp nhau tại cổng nhà M2, T2 đưa tiếp cho M2 số tiền mặt 3.100.000 đồng và nói với M2 nợ lại 800.000 đồng, M2 đồng ý và nhận tiền rồi đưa cho T2 03 viên thuốc lắc và 02 chỉ Ketamine. Mua ma túy xong, T2 cầm ma túy đi về quán bia của mình rồi đi vào bếp lấy 03 viên thuốc lắc cho vào tờ giấy và dùng chày bằng gỗ giã nhỏ rồi đổ vào cốc thủy tinh pha với 01 lon cocacola, đến khi thuốc lắc tan hết T2 uống một ngụm rồi đặt cốc lên mặt tủ lạnh và đi ra nói với mọi người vào dùng thuốc lắc, sau khi T2 nói thì lần lượt T, L1, H, T6 đi vào uống, sử dụng xong T đi ra sân sau ngồi nói chuyện với L1, còn T6 ra ngoài nghe điện thoại, O là người uống thuốc lắc cuối cùng, sau khi uống hết O cầm cốc đi rửa và để lên giá cốc. Khoảng 15 phút sau, T2 xuống bếp lấy 01 đĩa sứ bầu dục màu trắng cho vào lò vi sóng quay để làm nóng đĩa cầm vào phòng ngủ để dưới nền nhà rồi lấy 02 túi Ketamine đổ ra đĩa, dùng thẻ ATM của T2 để xào Ketamine, O dùng tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng cuộn lại và dùng vỏ đầu lọc thuốc lá cố định hai đầu làm ống hút. Sau khi chuẩn bị xong thì T, L1, H, T6 đi vào phòng ngủ để sử dụng ma tuý. T2 dùng thẻ ATM chia Ketamine thành các đường thẳng nhỏ rồi bê đĩa, đưa ống hút cho T sử dụng trước rồi đến L1, T6, H, O, T2 sử dụng sau cùng; lượt thứ hai sử dụng Ketamine chỉ có T, T6, T2. Trong quá trình sử dụng ma tuý, O đã sử dụng điện thoại của mình mở nhạc cho mọi người nghe.

Đến 00 giờ 50 phút ngày 30/4/2023, khi các đối tượng đang phê ma tuý, nằm, và ngồi trên giường nghe nhạc thì bị tổ công tác của Công an huyện T vào kiểm tra hành chính, tổ công tác còn phát hiện trên mặt tủ gỗ đầu giường phòng ngủ có: 01 đĩa sứ hình bầu dục, màu trắng, trên mặt đĩa chứa chất bột màu trắng; 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền 20.000 đồng hai đầu cố định bằng hai vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng, bên trong ống hút bám dính chất bột màu trắng; 01 thẻ ATM ngân hàng A mang tên NGUYEN CHIEN THANG; 02 túi nilon trong suốt, mép túi có gờ cài viền màu xanh. Tổ công tác đã mời ông Bùi Văn T7 và anh Đinh Công D1 đến chứng kiến việc tổ công tác thu giữ và niêm phong: toàn bộ chất bột màu trắng trên mặt đĩa cho vào 01 túi nilon trong suốt, mép túi có gờ cài rồi niêm phong lại (Mẫu số A1); niêm phong đĩa sứ hình bầu dục, màu trắng, trên mặt đĩa bám dính chất bột màu trắng (Mẫu số A2); niêm phong ống hút bám dính chất bột màu trắng (Mẫu số A3); quản lý 01 thẻ ATM và 02 túi nilon trong suốt, mép túi có gờ cài viền màu xanh. Sau đó tổ công tác đã đưa các đối tượng về trụ sở để điều tra làm rõ. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khám xét khẩn cấp quán B phát hiện thu giữ 01 chày gỗ hình trụ tròn màu nâu có chiều dài 21,5cm đường kính 04cm tại mặt bệ bếp trong quán. Khám xét khẩn cấp

4

tại nhà ở của Đặng Văn T, Bùi Văn T6, Bùi Thị H, Trần Thị Hồng L1Vũ Thị O không thu giữ gì liên quan đến tội phạm.

Đối với Lê Ngọc M2 sau khi bị bắt tạm giam M2 khai: Khoảng 16 giờ ngày 29/4/2023, M2 đi xe bus từ khu vực chợ T8 địa phận xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình đến khu vực chân cầu S, địa phận phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình rồi xuống đi bộ để tìm mua ma túy mang về bán kiếm lời. Tại đây, M2 gặp và mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi, không biết tên và địa chỉ được 03 viên thuốc lắc và 02 chỉ Ketamine với giá 3.750.000 đồng (thuốc lắc có giá 250.000 đồng/01 viên và Ketamine có giá 1.500.000 đồng/01 chỉ). Sau khi bán xong người này đi đâu không rõ, còn M2 cất giấu ma tuý vào trong người rồi mang về nhà. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi T2 gọi điện hỏi M2 để tìm chỗ mua ma túy thì M2 nói là M2 có bán ma tuý, sau đó hai người thoả thuận mua bán ma tuý 03 viên thuốc lắc và 02 chỉ Ketamine với giá 5.200.000 đồng trước cổng nhà ở của M2 thuộc thôn L, xã D, huyện T, Thái Bình. Toàn bộ số tiền bán ma tuý M2 đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết nên không thu giữ được.

Bản kết luận giám định số 628/KL-KTHS ngày 05/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Chất bột màu trắng trong túi nilon trong suốt mép có gờ cài gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng là 0,2773 gam (Không phẩy hai nghìn bảy trăm bảy mươi ba gam). Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt đĩa sứ hình bầu dục màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Ketamine; Chất bột màu trắng bám dính trong ống hút được cuộn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 20.000đ, hai đầu ống được cố định bằng hai vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, đều không xác định được khối lượng ma tuý bám dính. Ketamine STT: 40 Danh mục III phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”.

Bản kết luận giám định số 629/KL-KTHS ngày 05/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận giám định các mẫu đựng nước tiểu của các đối tượng (mẫu M1 – Đặng Văn T; M2 – N, M3 - B, M4 – Bùi Thị Hảo; M5 – T; M6 – Vũ Thị O): “Trong các mẫu nước tiểu (Mẫu số M1, Mẫu số M2, Mẫu số M3, Mẫu số M4, Mẫu số M5, Mẫu số M6) gửi giám định đều chứa sản phẩm chuyển hóa của hai loại ma túy là Ketamine và MDMA. Ketamine STT: 40 Danh mục III phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. MDMA STT: 11 Danh mục IB phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”.

Phiếu trả lời kết quả ngày 30/4/2023 của Bệnh viện tâm thần tỉnh T về xác định tình trạng nghiện ma túy xác định: “Nguyễn Chiến T2, Đặng Văn T, Vũ Thị O, Trần Thị Hồng L1, Bùi Thị H đều chưa đủ tiêu chuẩn nghiện với chất MDMA và Ketamin".

5

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các kết luận giám định, xét nghiệm trên.

Bản cáo trạng số 180/CT-VKSTT ngày 23/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Đặng Văn T, Nguyễn Chiến T2, Vũ Thị O, Trần Thị Hồng L1Bùi Thị H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự; Lê Ngọc M2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát huyện T giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về hình phạt đề nghị HĐXX:

- Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm s khoản 1, Điều 51; Riêng bị cáo Trần Thị Hồng L1 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo:

  • + Nguyễn Chiến T2Đặng Văn T từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 30/4/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  • + Vũ Thị O, Trần Thị Hồng L1, Bùi Thị H từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 30/4/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Áp dụng khoản 1, 5, Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Ngọc M2 từ 2 năm 6 tháng đến 2 năm 9 tháng tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 23/8/2023. Phạt bổ sung từ 07 triệu đồng đến 10 triệu đồng.

* Về xử lý vật chứng của vụ án đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,2633 gam ma túy, loại Ketamine và toàn bộ bao gói còn lại sau giám định; 01 đĩa sứ hình bầu dục; 02 túi nilon; 01 chày gỗ; 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng; 01 thẻ ATM ngân hàng A mang tên NGUYEN CHIEN THANG.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Thị O; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Trần Thị Hồng L1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Đặng Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Chiến T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Ngọc M2; 01 tờ tiền 20.000 đồng các bị cáo cuộn làm tẩu để hút ma tuý; số tiền 4.400.000 đồng của Lê Ngọc M2 do bán

6

ma túy mà có; buộc Nguyễn Chiến T2 nộp lại số tiền 800.000 đồng còn nợ lại Lê Ngọc M2 khi mua ma túy, chưa trả cho M2.

- Trả lại cho bị cáo Bùi Thị H điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen xanh.

* Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị tuyên án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng đối với mỗi bị cáo.

Các bị cáo không tranh luận.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụngtại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền,trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến đề nghị, khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận: Ngày 29/4/2023, các bị cáo Nguyễn Chiến T2, Đặng Văn T, Vũ Thị O, Trần Thị Hồng L1Bùi Thị H đã có hành vi tổ chức để các bị cáo cùng với Bùi Văn T6 sử dụng trái phép chất ma tuý. Trong đó: Đặng Văn T là người khởi xướng, góp tiền; Nguyễn Chiến T2 là người đi mua ma túy, sử dụng địa điểm của mình, chuẩn bị dụng cụ và chế biến ma túy; Trần Thị Hồng L1, Bùi Thị HVũ Thị O là người cùng góp tiền để T2 đi mua ma túy. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

[3] Hành vi của các bị cáo Đặng Văn T, Nguyễn Chiến T2, Vũ Thị O, Trần Thị Hồng L1Bùi Thị H cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nhằm đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể mình và cơ thể người khác, gây ảnh hưởng nghiêm trọng về sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con người và xã hội. Hành vi của Lê Ngọc M2 mặc dù biết rõ sự nghiêm cấm của pháp luật đối với hoạt động bán trái phép chất ma túy, nhưng do mục đích lợi nhuận. Các bị cáo đã trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Các bị cáo biết hành vi của mình đã xâm hại quyền quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất gây nghiện nhưng vẫn cố ý thực hiện.

[4] Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Đặng Văn T, Nguyễn Chiến T2, Vũ Thị O, Trần Thị Hồng L1Bùi Thị H phạm tội “Tổ chức

7

sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Lê Ngọc M2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

b) Đối với 02 người trở lên;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

[5] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì Lê Ngọc M2 năm 2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 08 năm tù về tội Cướp tài sản theo Bản án số 18/2010/HSST ngày 13/5/2010, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2016 và chấp hành xong phần dân sự của bản án, đến nay đã được xoá án tích; các bị cáo khác đều chưa có tiền án, tiền sự nên cả 06 bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Thị Hồng L1 có ông nội là liệt sỹ chống Mỹ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Sau khi đánh giá toàn diện về hành vi, vai trò, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự HĐXX thấy rằng. Ma túy là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đại dịch HIV/AIDS đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, các bị cáo phải chịu mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình và cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội đồng thời đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét

8

giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và chính sách khoan hồng của Nhà nước ta, tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành người có ích cho xã hội. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý để quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, quá trình thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo cùng nhau bàn bạc, cùng nhau góp tiền chung để đi mua ma túy về sử dụng, Nguyễn Chiến T2 là người thu tiền, đi mua ma túy, sử dụng địa điểm của mình, chuẩn bị dụng cụ và chế biến ma túy có vai trò thứ nhất; Đặng Văn T là người khởi xướng, góp tiền nên giữ vai trò thứ hai; Trần Thị O1 góp tiền, nhắn tin rủ L1 và chuẩn bị dụng cụ có vai trò thứ ba, Bùi Thị H góp nhiều tiền nhất, tham gia từ đầu có vai trò thứ tư; Trần Thị L1 góp tiền mua ma túy thứ năm.

[7] Về hình phạt bổ sung: Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Lê Ngọc M2 nhằm mục đích hưởng lời bất chính nên đề nghị cần áp dụng hình phạt bổ sung để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy các bị cáo phạm tội lần đầu, không có động cơ vì lợi nhuận nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Về vật chứng:

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, cần:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và những dụng cụ các bị cáo dùng để sử dụng ma túy không còn giá trị hoặc giá trị không lớn gồm: 01 đĩa sứ hình bầu dục; 02 túi nilon; 01 chày gỗ; 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng; 01 thẻ ATM ngân hàng A mang tên NGUYEN CHIEN THANG.

Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với các tài sản đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Thị O; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Trần Thị Hồng L1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Đặng Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Chiến T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Ngọc M2; 01 tờ tiền 20.000 đồng các bị cáo cuộn làm tẩu để hút ma tuý; số tiền 4.400.000 đồng của Lê Ngọc M2 do bán ma túy mà có. Buộc Nguyễn Chiến T2 nộp lại số tiền 800.000 đồng còn nợ lại Lê Ngọc M2 khi mua ma túy, chưa trả cho M2.

Trả lại cho bị cáo Bùi Thị H điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen xanh không liên quan đến hành vi phạm tội.

[9] Các vấn đề khác của vụ án:

[9.1] Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, đã cũ gắn sim số 0329884490 thu giữ của Bùi Văn T6 và 01 xe mô tô nhãn hiệu

9

VECSTAR, sơn màu xanh, biển kiểm soát 17K4-9022 thu giữ của Nguyễn Chiến T2, chủ sở hữu là Nguyễn Đức M, sinh năm 1965, trú tại thôn L, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình (bố đẻ của T2). Trong quá trình điều tra đã làm rõ những tài sản trên không liên quan đến việc phạm tội và chủ sở hữu tài sản không biết việc bị cáo sử dụng tài sản đó vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ.

[9.2] 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen xanh đã cũ, thu giữ, quản lý của Bùi Thị H xét thấy không liên quan đến vụ án cũng cần trả lại cho bị cáo

[9.3] Về nguồn gốc số ma túy Lê Ngọc M2 bán cho Nguyễn Chiến T2 ngày 29/4/2023, M2 khai mua của người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xác minh xử lý.

[9.4] Đối với bà Vũ Mai P1 là người đứng tên chủ tài khoản số 1031703945 tại ngân hàng VLê Ngọc M2 sử dụng có phát sinh giao dịch nhận và chuyển tiền 1.300.000 đồng vào tối ngày 29/4/2023, quá trình điều tra, xác minh làm rõ bà P1 là thím của M2, khoảng tháng 10/2022 bà P1 cho M2 mượn căn cước công dân của mình nhưng không biết việc Lê Ngọc M2 sử dụng căn cước để mở tài khoản và không biết Lê Ngọc M2 sử dụng tài khoản này để bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là đúng quy định.

[9.5] Bùi Văn T6 là người sử dụng trái phép chất ma túy cùng với 05 bị cáo tối 29/4/2023 nhưng T6 không có hành vi giúp sức trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T6 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1, Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Các bị cáo Đặng Văn T, Nguyễn Chiến T2, Vũ Thị O, Trần Thị Hồng L1Bùi Thị H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Lê Ngọc M2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự đối với 04 bị cáo Đặng Văn T, Nguyễn Chiến T2, Vũ Thị OBùi Thị H:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chiến T2 08 năm 06 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2023.

10

Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 08 năm 03 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2023.

Xử phạt bị cáo Vũ Thị O 08 năm tù thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2023.

Xử phạt bị cáo Bùi Thị H 07 năm 09 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2023.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thị Hồng L1 xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2023.

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Ngọc M2 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2023. Phạt bổ sung bị cáo Lê Ngọc M2 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

* Về xử lý vật chứng của vụ án đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,2633 gam ma túy, loại Ketamine; 01 đĩa sứ hình bầu dục; 02 túi nilon; 01 chày gỗ; 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng; 01 thẻ ATM ngân hàng A mang tên NGUYEN CHIEN THANG.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Thị O; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Trần Thị Hồng L1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Đặng Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Chiến T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Ngọc M2; 01 tờ tiền 20.000 đồng các bị cáo cuộn làm tẩu để hút ma tuý; truy thu số tiền 4.400.000 đồng của Lê Ngọc M2 để sung quỹ nhà nước; Buộc Nguyễn Chiến T2 nộp số tiền 800.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

- Trả lại cho bị cáo Bùi Thị H điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen xanh.

(Có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy).

4. Về án phí: Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự các bị cáo Đặng Văn T, Nguyễn Chiến T2, Vũ Thị O, Trần Thị Hồng L1, Bùi Thị H, Lê Ngọc M2 và ông Nguyễn Đức M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/01/2024. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên

11

quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
  • - VKSND Thái Thụy;
  • - Trại tạm giam Thái Bình;
  • - Công an Thái Thụy;
  • - Chi cục THADS Thái Thụy;
  • - CQ THAHS huyện Thái Thụy.
  • - Tòa án tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu HCTP;
  • - Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Vương

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 06/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng văn T và đồng phạm phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger