Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 06/2024/DS-ST

Ngày: 09 - 01 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN,TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỳ Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Xuân Loan
  2. Bà Lê Thị Thanh Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 390/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 623/2022/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 603/2023/QÐST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V1);

Địa chỉ trụ sở: Tầng A (tầng trệt) và Tầng B, Tòa nhà S - A P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V; chức vụ: Tổng Giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Khánh H; chức vụ: Giám đốc Xử lý nợ hỗn hợp M - Trung tâm quản lý nợ ngân hàng B – Khối ngân hàng bán lẻ V1

Địa chỉ liên lạc: Tầng F, Tòa nhà P U, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền lại:

  • + Trần Minh P, chức vụ: Cán bộ VIB;
  • + Trần Văn D, chức vụ: Cán bộ VIB;
  • + Nguyễn Hoàng T, chức vụ: Cán bộ VIB;

Cùng địa chỉ liên lạc: Tầng F, Tòa nhà P U, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn:

Bà Lê Thị Thúy A, sinh năm 1991;

Cư trú: số 295A/15, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, ông Trần Văn D đại diện cho nguyên đơn có mặt; bà Lê Thị Thúy A vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần Q (viết tắt là Ngân hàng) trình bày:

Ngân hàng thương mại cổ phần Q (viết tắt là Ngân hàng) và bà Lê Thị Thúy A có ký kết Hợp đồng tín dụng số 9699079.21 ngày 20 tháng 5 năm 2021 kèm theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ để Ngân hàng cho bà A vay số tiền với nội dung: Số tiền giải ngân cho vay là 485.000.000 đồng; mục đích giải ngân là thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA CERATO 1.6AT; thời hạn vay là 96 tháng, từ ngày 21 tháng 5 năm 2021 đến ngày 20 tháng 5 năm 2029; lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9,1%/năm (lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4,1%/năm); trả nợ gốc hàng tháng vào ngày 15, kỳ trả nợ đầu tiên ngày 15 tháng 6 năm 2021; số tiền trả mỗi kỳ 5.055.000 đồng, số còn lại trả vào cuối kỳ; trả phí theo quy định của Ngân hàng từng thời kỳ; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.

Ngân hàng đã thực hiện giải ngân theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ cho bà A với số tiền 485.000.000 đồng.

Tạm tính đến ngày 07 tháng 02 năm 2023, bà A đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 130.287.440 đồng (trong đó: tiền vay gốc là 75.825.000 đồng, tiền lãi là 54.462.440 đồng).

Quá trình thực hiện hợp đồng bà A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mặc dù Ngân hàng nhiều lần đôn đốc.

Khoản vay của bà A có tài sản bảo đảm, theo Hợp đồng thế chấp phương

tiện vận tải số 9756159.21 ngày 20 tháng 5 năm 2021. Tuy nhiên, Ngân hàng không yêu cầu giải quyết đối với tài sản bảo đảm này.

Nay Ngân hàng yêu cầu bà A trả số tiền tạm tính đến ngày 07 tháng 02 năm 2023 tổng số là 437.813.117 đồng; trong đó: nợ gốc là 409.175.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 26.829.159 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.808.958 đồng. Bà A phải tiếp tục chịu lãi, lãi quá hạn cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký.

Bị đơn bà Lê Thị Thúy A: Vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án.

Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do, nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Tại phiên tòa:

- Ông Trần Văn D đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bà A. Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà A phải trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 09 tháng 01 năm 2024 tổng cộng là 520.412.156 đồng, trong đó: số nợ gốc là 409.175.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 39.726.258 đồng, nợ lãi quá hạn là 71.510.898 đồng. Yêu cầu bà A phải tiếp tục chịu lãi, lãi quá hạn từ ngày 10 tháng 01 năm 2024 cho đến khi bà A thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký.

- Bà Lê Thị Thúy A vắng mặt và không cung cấp ý kiến, tài liệu, chứng cứ.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án nên chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ nội dung các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì bà Lê Thị Thúy A có ký Hợp đồng tín dụng số 9699079.21 ngày 20 tháng 5 năm 2021 kèm theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ với Ngân hàng thương mại cổ phần Q để vay số tiền như nội dung nguyên đơn trình bày. Đến ngày 15 tháng 9 năm 2022, bà A không còn thực hiện việc thanh toán cho Ngân hàng theo thỏa thuận, đã vi phạm cam kết theo các điều khoản ghi trong hợp đồng tín dụng về việc trả nợ vay Ngân hàng. Xét thấy: Các bên giao kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm pháp luật, nội dung các bên đã thỏa thuận quyền và nghĩa vụ các bên, số tiền, mục đích vay và thời hạn vay, phương thức trả nợ, cam kết trả nợ,... Do đó, giao kết hợp đồng các bên có giá

trị pháp lý nên việc Ngân hàng yêu cầu bà A phải thanh toán số tiền gốc, lãi chưa thực hiện theo nội dung thỏa thuận cho đến khi trả hết nợ là có căn cứ. Vì vậy, căn cứ các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc bà A có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán hết số nợ đã vay cho Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng khởi kiện bà Lê Thị Thúy A yêu cầu trả tiền vốn vay và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng. Bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn thành phố L. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

[2] Về tố tụng:

[2.1] Bị đơn bà A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.2] Khi vay vốn tại Ngân hàng, bà A có thế chấp tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 9756159.21 ngày 20 tháng 5 năm 2021 như Ngân hàng trình bày. Tuy nhiên, Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với tài sản thế chấp, không tranh chấp về hợp đồng thế chấp, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về nội dung:

[3.1] Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và bà A được xác lập theo Hợp đồng tín dụng số 9699079.21 ngày 20 tháng 5 năm 2021 và các Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ (kèm theo hợp đồng tín dụng) được ký kết trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía bà A đã thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi theo kỳ được một thời gian thì dừng và không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ của bên vay và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bên cho vay. Trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án, bà A không cung cấp tài liệu, chứng cứ và ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng là có cơ sở để chấp nhận.

[3.2] Đối với yêu cầu trả lãi của Ngân hàng, xét thấy: Theo Hợp đồng tín dụng số 9699079.21 ngày 20 tháng 5 năm 2021, các bên đã thỏa thuận về việc bị đơn phải chịu lãi trong hạn, lãi quá hạn do chậm trả nợ gốc và lãi do chậm trả lãi. Bà A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo kỳ, khoản vay của bà A đã chuyển sang nợ quá hạn từ thời điểm bà A dừng thanh toán nợ gốc từ kỳ thanh toán ngày 15 tháng 8 năm 2022 đến 15 tháng 9 năm 2022. Tuy nhiên, đến ngày 15 tháng 4 năm 2023, Ngân hàng mới bắt đầu chuyển tính lãi quá hạn đối với khoản vay của bà A, điều này là có lợi cho bà A. Trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án, bà A không cung cấp tài liệu, chứng cứ và ý kiến phản đối về số tiền lãi, lãi suất phải chịu. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng đối với phần tiền lãi, lãi quá hạn là có cơ sở để chấp nhận.

[3.3] Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc bà A có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 09 tháng 01 năm 2024 tổng cộng là 520.412.156 đồng, trong đó: số nợ gốc là 409.175.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 39.726.258 đồng, nợ lãi quá hạn là 71.510.898 đồng. Đồng thời, kể từ ngày 09 tháng 01 năm 2024, buộc bà A còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí sơ thẩm; bà A phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 238, các Điều 271, 273, 278, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • - Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
  • - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q đối với bà Lê Thị Thúy A.

- Buộc bà Lê Thị Thúy A có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền tạm tính đến ngày 09 tháng 01 năm 2024 tổng cộng là 520.412.156 đồng (năm trăm hai mươi triệu bốn trăm mười hai nghìn một trăm năm mươi sáu đồng), trong đó: số nợ gốc là 409.175.000 đồng (bốn trăm linh chín triệu một trăm

bảy mươi lăm nghìn đồng), nợ lãi trong hạn là 39.726.258 đồng (ba mươi chín triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi tám đồng), nợ lãi quá hạn là 71.510.898 đồng (bảy mươi mốt triệu năm trăm mười nghìn tám trăm chín mươi tám đồng).

- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (09 tháng 01 năm 2024) bà Lê Thị Thúy A còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 9699079.21 ngày 20 tháng 5 năm 2021 và các Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ (kèm theo hợp đồng tín dụng) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng số 9699079.21 ngày 20 tháng 5 năm 2021 và các Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ (kèm theo hợp đồng tín dụng), các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị Thúy A phải chịu 24.816.486 đồng (hai mươi bốn triệu tám trăm mười sáu nghìn bốn trăm tám mươi sáu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương mại cổ phần Q không phải chịu án phí sơ thẩm nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.756.262 đồng (mười triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn hai trăm sáu mươi hai đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002356 ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

3. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự (2);
  • - Chi cục THADS TP Long Xuyên (1);
  • - VKSND TP Long Xuyên (1);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Văn phòng (2);
  • - Lưu hồ sơ (1).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thùy Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/DS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 06/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger