Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HS-ST

Ngày: 09/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lưu Ly.

Ông Lê Tấn Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

  1. Tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Xuân Nhẫm - Kiểm sát viên.
  2. Tại điểm cầu thành phần: Ông Võ Văn Tánh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024, Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 theo hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu: Điểm cầu Trung tâm đặt tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6; Điểm cầu thành phần đặt tại Trại tạm giam Chí Hòa - Cơ sở T30 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Võ Ngọc Đăng T; Sinh ngày: 24/5/1994; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 121/16 đường NTN, Phường 1, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Làm công; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Văn T1 và bà: Tạ Thị Ngọc U; Có vợ: Không và con: Không; Tiền án: Không; Bị bắt, tạm giữ từ ngày 04/9/2023.

Tiền sự: Ngày 26/02/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 71/2021/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 24/5/2023 (Giấy chứng nhận số: 114/GCN-CSPĐ ngày 24/5/2023 của Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức).

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Võ Văn K; Sinh ngày: 09/11/2004; Thường trú: 121/16 đường NTN, Phường I, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 13 đường số BF, tổ B, khu phố D, phường PL A, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

- Người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Các ông Bùi Tấn Phát, Nguyễn Triệu Phú, Phan Việt Hùng, Phạm Gia Huy - Là cán bộ, chiến sĩ Hỗ trợ tư pháp thuộc nhà tạm giữ Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

(đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 20 phút ngày 04/9/2023, tổ công tác 363 - Số 2 thuộc Công an Quận 6 trên đường tuần tra phát hiện Võ Văn K đang điều khiển xe gắn máy biển số 59P3-446.00 chở Võ Ngọc Đăng T chạy đến trước nhà số 498 đường HG, Phường L, Quận F có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, đã thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của T 01 ví da màu đen, bên trong ví có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (T khai là ma túy đá), nên tổ công tác đã giao T, K cùng vật chứng nêu trên cho Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra, Võ Ngọc Đăng T khai: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 04/9/2023, T mượn xe gắn máy biển số 59P3-446.00 của Võ Văn K (em ruột T) đến khu vực đường BV (đối diện nhà số 08), phường PNL, Quận A nhờ một người đàn ông chạy xe Honda ôm (không rõ lai lịch) mua dùm 01 gói ma túy đá giá 200.000 đồng để sử dụng, T trả công cho người này 50.000 đồng. Người này đồng ý và kêu T chờ. Khoảng 10 phút sau, người này quay lại đưa cho T 01 gói ma túy đá. T để gói ma túy vào trong ví da màu đen, cất trong túi quần phía trước bên phải rồi quay về nhà. Đến 13 giờ cùng ngày, T nhờ Võ Văn K chở đi mua đồ ăn để giao cho khách và khi K chở T chạy đến trước nhà số 498 đường HG thì bị kiểm tra bắt giữ như đã nêu trên.

Võ Văn K khai tương tự và xác nhận không hùn tiền với Võ Ngọc Đăng T mua ma túy cũng như K không biết việc T mua ma túy và cất giữ ma túy trong người.

Theo kết quả xét nghiệm chất ma túy cùng ngày 04 tháng 9 năm 2023 của Trạm y tế Phường 12, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, Võ Ngọc Đăng T, Võ Văn K đều âm tính với ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 9671/KL-KTHS ngày 12 tháng 9 năm 2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: 01 gói được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Võ Ngọc Đăng T, Ngô Văn M (người chứng kiến) và hình dấu Công an Phường 12, Quận 6. Bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m) cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4403g (không phẩy bốn bốn không ba gam), loại Methamphetamine.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 140/QĐ-ĐCSMT); khởi tố bị can đối với Võ Ngọc Đăng T về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» (Quyết định số: 139/QĐ-ĐCSMT).

Đối với Võ Văn K, Cơ quan điều tra không chứng minh được K có liên quan đến hành vi cất giữ ma túy của Võ Ngọc Đăng T nên không có căn cứ xử lý. Còn người đàn ông mua dùm ma túy cho Võ Ngọc Đăng T ở khu vực đường BV (đối diện nhà số 08), phường PNL, Quận A, Cơ quan điều tra không xác định được lai lịch.

Tại Cáo trạng số: 102/CT-VKS-Q6 ngày 27 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Võ Ngọc Đăng T về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Võ Ngọc Đăng T khai nhận chính bị cáo, đã thực hiện hành vi cất giữ 01 gói ma túy tổng hợp (loại Methamphetamine hay còn gọi là ma túy đá) để sử dụng và bị Công an phát hiện bắt quả tang vào lúc 13 giờ 20 phút ngày 04/9/2023 tại trước nhà số 498 đường HG, Phường L, Quận F như nội dung bản cáo trạng nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Ngọc Đăng T như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Võ Ngọc Đăng T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 9671 (1969/23), có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Xuân S và cán bộ điều tra Võ Đăng Khoa. Bên trong chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,2885 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 ví da màu đen.

Trả lại bị cáo Võ Ngọc Đăng T 01 chiếc điện thoại di động màu đen, có ghi chữ Redmi 5G, số Imei: 868869061496203 (bên trong có 01 sim điện thoại số 0777.608.xxx).

Còn các vật chứng khác, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã xử lý xong, nên không đề nghị xử lý.

Lời nói sau cùng, bị cáo Võ Ngọc Đăng T nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo Võ Ngọc Đăng T tại phiên tòa với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Kết luận giám định số: 9671/KL-KTHS ngày 12/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Võ Văn K và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Ngọc Đăng T đã phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).

Bị cáo Võ Ngọc Đăng T đã cất giữ chất ma túy ở thể rắn và thời điểm bắt quả tang (vào lúc 13 giờ 20 phút ngày 04/9/2023 tại trước nhà số 498 đường HG, Phường L, Quận F) đã thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của bị cáo 01 gói nylon, bên trong có 0,4403 gam ma túy, loại Methamphetamine (bị cáo khai số ma túy này là của bị cáo mua và cất giữ để dành sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy khác). Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về chế độ độc quyền trong việc quản lý, trao đổi, cất giữ chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội. Hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» thuộc trường hợp «Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam» theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên, là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Bị cáo Võ Ngọc Đăng T là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức được hành vi cất giữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, được quy định trong Bộ luật hình sự, nhưng để thỏa mãn lối sống không lành mạnh và nhất là xem thường pháp luật, nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

[3] Về nhân thân của bị cáo Võ Ngọc Đăng T: Ngày 26/02/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy. Lẽ ra bị cáo phải biết rèn luyện, tu dưỡng để trở thành người có ích cho gia đình, cho xã hội, nhưng ngược lại, vẫn tiếp tục sống buông thả và phạm tội. Cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là không tốt.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Võ Ngọc Đăng T là nghiêm trọng. Mặt khác, ma túy nói chung và các chất ma túy ở thể rắn như Methamphetamine nói riêng là chất gây nghiện độc hại, việc sử dụng ma túy đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập của chính người sử dụng và đây cũng chính là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung, góp phần vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay, nhất là các tội phạm về ma túy. Tuy nhiên, xét bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[5] Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo Võ Ngọc Đăng T còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo phạm tội không vụ lợi, là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Việc xử lý vật chứng:

[7.1] Đối với 01 gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 9671 (1969/23), có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Xuân S và cán bộ điều tra Võ Đăng Khoa. Bên trong chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,2885 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 ví da màu đen, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[7.2] Đối với 01 chiếc điện thoại di động màu đen, có ghi chữ Redmi 5G, số Imei: 868869061496203 (bên trong có 01 sim điện thoại số 0777.608.xxx) thu giữ của bị cáo Võ Ngọc Đăng T. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bị cáo vì không đủ căn cứ xác định do bị cáo phạm tội mà có hay bị cáo đã hoặc sẽ dùng vào việc phạm tội. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 136/PNK ngày 18 tháng 11 năm 2023 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 93/QĐ-VKS-Q6 ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 12 năm 2023 giữa Công an Quận 6 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6)

[7.3] Đối với chiếc xe gắn máy hiệu Vario màu đỏ, biển số 59P3-446.00 và chiếc điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh (bên trong có 01 sim điện thoại) thu giữ của Võ Văn K. Cơ quan điều tra đã bàn giao cho Công an Phường 12, Quận 6 xử lý hành chính theo quy định (theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/9/2023 - BL82), do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[8] Đối với Võ Văn K, Viện kiểm sát xác định không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm. Còn người đàn ông mua dùm ma túy cho bị cáo Võ Ngọc Đăng T, do bị cáo khai không rõ nhân thân lai lịch, nên không có cơ sở điều tra làm rõ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo Võ Ngọc Đăng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Võ Ngọc Đăng T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày 04/9/2023.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 9671 (1969/23), có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Xuân S và cán bộ điều tra Võ Đăng Khoa. Bên trong chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,2885 (không phẩy hai tám tám năm) gam; 01 (một) ví da màu đen.

- Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại bị cáo Võ Ngọc Đăng T 01 (một) chiếc điện thoại di động màu đen, có ghi chữ Redmi 5G, số Imei: 868869061496203, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số 0777.608.xxx.

(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 12 năm 2023 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh)

- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Võ Ngọc Đăng T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Bị cáo Võ Ngọc Đăng T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 6;
  • - Công an Quận 6;
  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Công an Tp. Hồ Chí Minh (Phòng PV06);
  • - Chi cục THADS Quận 6;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ đến vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thùy Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 06/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. - Xử phạt bị cáo Võ Ngọc Đăng T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày 04/9/2023. - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 9671 (1969/23), có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Xuân S và cán bộ điều tra Võ Đăng Khoa. Bên trong chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,2885 (không phẩy hai tám tám năm) gam; 01 (một) ví da màu đen. - Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại bị cáo Võ Ngọc Đăng T 01 (một) chiếc điện thoại di động màu đen, có ghi chữ Redmi 5G, số Imei: 868869061496203, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số 0777608974. (theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 12 năm 2023giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh) - Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Võ Ngọc Đăng T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. - Bị cáo Võ Ngọc Đăng T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger