Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HS-ST

Ngày: 09-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tô Thị Kim Dung và bà Nguyễn Hải Yến

Thư ký phiên tòa: Bà Lỗ Thị Kiều Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Quỳnh - Kiểm sát viên

Mở phiên tòa công khai ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 412/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 400/2023/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1991. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: tổ dân phố A, phường Y, quận H, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo, Đảng phái: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Nguyễn Trọng Q1 và bà Nguyễn Thị K. Bị cáo khai tại phiên tòa có vợ là Hán Như Q2 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2019.

Tiền sự: không.

Tiền án: Bản án số 48/2021/HS-ST ngày 10/3/2021, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xử phạt 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 14/12/2021.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2023. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Phi L, sinh năm 1986. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: tổ dân phố A, phường Y, quận H, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo, Đảng phái: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa bị cáo khai tại Tòa: 12/12. Con ông Nguyễn Bá L1 và bà Lê Thị C. Có vợ là Lê Thị L2 và 02 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013). Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Bản án số 186/2007/HSST ngày 18/10/2007, Tòa án nhân dân thành phố Hà Đông, tỉnh Hà Tây xử 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 BLHS năm 1999.
  • + Bản án số 291/2008/HSST ngày 21/8/2008, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội xử 16 tháng tù về tội “Giao cấu với trẻ em" theo quy định tại khoản 1 Điều 115 BLHS năm 1999. Tổng hợp với hình phạt của bản án số 186/2007/HSST ngày 18/10/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Đông buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 28 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 08/5/2010.
  • + Bản án số 120/2016/HSST ngày 26/5/2016, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội xử 28 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999, chấp hành xong hình phạt ngày 28/02/2018.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/11/2023. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Công ty Cổ phần L4 cơ giới hạ tầng. Địa chỉ: Tầng A, đơn nguyên B, Tòa nhà L, Khuất Duy T, phường N, quận T, Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Văn P - cán bộ quản lý vật tư. Giấy ủy quyền số 66/UQ-LICOGI13-IMC-HCTH ngày 11/8/2023. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn L3, sinh năm 1988; Địa chỉ nơi ở: CL21-13, Khu C, đất dịch vụ Y, quận H, Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 10/08/2023, Nguyễn Phi L rủ Nguyễn Trọng Q đi trộm cắp tài sản tại C, phường L, quận H, Quyền đồng ý. Khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô màu xanh, biển kiểm soát 30K6-8087 chở Q đến bờ tường của khu công nghiệp Y, phường Y, quận H, giáp ranh với công trường ParkCity. Cả hai để xe bên ngoài, trèo tường vào công trường lấy trộm 02 tấm cốt pha kim loại mang ra chỗ để xe máy rồi cùng dùng xe may chở theo 02 tấm cốt pha đến cửa hàng thu mua sắt vụn ở CL21-13 (khu C đất dịch vụ Y, phường Y, quận H, Hà Nội) bán cho anh Nguyễn Văn L3 (có vợ là chị Nguyễn Thị H) - chủ cửa hàng với giá 330.000 đồng. Cả hai đi mua đồ ăn hết số tiền vừa có được rồi về nhà L ăn uống. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 11/8/2023, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 30K6 - 8087 chở Q đến khu vực chân cầu vượt Y lấy 01 xe kéo để trên vỉa hè rồi quay lại công trường ParkCity bằng lối vào trước đó để tiếp tục trộm cắp. L và Q nhấc xe kéo vào bên trong công trường. Khi L và Q lấy được 06 tấm cốt pha, đang bê ra vị trí để xe kéo thì bị lực lượng bảo vệ công trình phát hiện. L chạy thoát, Q bị bắt và bị bàn giao cho Công an phường L, H giải quyết.

* Vật chứng thu giữ của Nguyễn Trọng Q:

  • - 03 (ba) tấm cốt pha kim loại màu nâu đỏ, mỗi tấm có kích thước (230x33x4,5) cm, khối lượng 27,25kg/tấm.
  • - 03 (ba) tấm cốt pha kim loại màu nâu đỏ, mỗi tấm có kích thước (230x27x4,5) cm, khối lượng 23,25kg/tấm.
  • - 01 (một) xe mô tô màu xanh, BKS 30K6-8087, số khung: RLGSCI0KHBH068490, số máy VMSACB-H068490, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) xe kéo đã qua sử dụng.

* Vật chứng thu giữ của Nguyễn Thị H (vợ anh Nguyễn Văn L3):

  • - 01 (một) tấm cốt pha kim loại màu nâu đỏ, mỗi tấm có kích thước (230x33x4,5) cm, khối lượng 27,25kg/tấm.
  • - 01 (một) tấm cốt pha kim loại màu nâu đỏ, mỗi tấm có kích thước (230x27x4,5) cm, khối lượng 23,25kg/tấm.

Ngày 11/8/2023, anh Vũ Văn P - đại diện theo ủy quyền của Công ty L4 - Cơ giới Hạ tầng đã gửi đơn trình báo sự việc đến Công an phường L, quận H, Hà Nội.

Ngày 11/08/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H đã yêu cầu định giá đối với 08 tấm cốt pha thu giữ nêu trên. Tại bản kết luận định giá tài sản số 200/KL-HĐĐGTS ngày 11/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, kết luận:

“+ Giá trị tài sản 04 (bốn) tấm cốt pha kim loại màu nâu đỏ, mỗi tấm có kích thước (230x33x4,5) cm, khối lượng 27,25kg/tấm là 1.940.000 đồng;

+ Giá trị tài sản 04 (bốn) tấm cốt pha kim loại màu nâu đỏ, mỗi tấm có kích thước (230x33x4,5) cm, khối lượng 23,25kg/tấm là 1.656.000 đồng.”

Quá trình điều tra đã xác định: Số tài sản các bị cáo chiếm đoạt là tài sản hợp pháp của Công ty L4- Cơ giới Hạ tầng. Ngày 14/8/2023, Cơ quan điều tra đã trao trả tài sản cho Công ty L4-Cơ giới Hạ tầng. Đại diện công ty đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì khác.

Đối với chiếc xe mô tô màu xanh, đeo biển kiểm soát 30K6-8087, số khung: RLGSCI0KHBH068490, số máy VMSACB-H068490 đã thu giữ. Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe nêu trên là xe mô tô nhãn hiệu SYM, có biển kiểm soát là 34B1-281.33, người đứng tên trên đăng ký xe là anh Vũ Văn N (sinh năm 1989, trú tại xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương nay là xã L, xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương), đăng ký từ ngày 06/08/2011. Công an huyện G, Hải Dương cung cấp: hiện không có ai là Vũ Văn N cư trú trên địa bàn, có thông tin sinh sống tại tổ A, Y, H, Hà Nội. Công an phường Y, H cung cấp không có người nào là Vũ Văn N sinh sống tại địa bàn. L khai nhận mua xe của một người nam giới không quen biết tại khu vực B, quận H năm 2023 với giá 1.000.000 đồng; khi mua không có giấy tờ, giao tiền mặt. Xe không có trong dữ liệu vật chứng. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu ngày 11/9/2023.

Chiếc biển kiểm soát 30K6-8087 là của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, số máy JC43E123197, số khung RLHJC4313AY608038, người đứng tên trên đăng ký là anh Đỗ Mạnh T1 (Sinh năm 1979, trú tại: số D tổ C, phường T, quận H, Hà Nội), đăng ký từ ngày 21/01/2010. Xác minh tại Công an phường T và Công an phường Q thuộc quận H, Hà Nội không có ai tên là Đỗ Mạnh T1.

Đối với chiếc xe kéo, Q khai chiếc xe là của L, lấy tại khu vực vỉa hè dưới cầu vượt Y. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát tìm chủ sở hữu xung quanh khu vực cầu vượt Y, nhưng không có ai nhận là tài sản của mình. L khai nhận là xe của Long tự làm ra.

Đối với Nguyễn Văn L3 là người đã mua 02 tấm cốt pha của Q, L với giá 330.000 đồng, đã tự nguyện giao nộp để trả đơn vị bị hại. Anh L3 không biết nguồn gốc tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Cáo trạng số 408/CT-VKS-HĐ ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội truy tố Nguyễn Trọng Q và Nguyễn Phi L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát quận H, Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Trọng Q từ 12 đến 15 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Phi L từ 12 đến 15 tháng tù.
  • Đều về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
  • - Về xử lý vật chứng: Buộc các bị cáo nộp số tiền 330.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Chiếc xe kéo là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước; Chiếc xe mô tô màu xanh, số khung: RLGSCI0KHBH068490, số máy VMSACB-H068490 đề nghị tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước nếu hết thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo mà Công an quận H, Hà Nội không tìm được chủ sở hữu. Chiếc biển kiểm soỏt 30K6-8087 khụng cũn giỏ trị sử dụng nờn đề nghị tịch thu tiờu hủy.

Các bị cáo xin được hưởng hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng; nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp lời khai của đại diện đơn vị bị hại, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, trong khoảng thời gian từ 21 giờ 00 ngày 10/8/2023 và đến 0 giờ 30 phút ngày 11/8/2023, tại khu vực công trường P (thuộc phường L, quận H, Hà Nội), Nguyễn Trọng Q và Nguyễn Phi L đã lén lút chiếm đoạt 08 (tám) tấm cốt pha kim loại, màu nâu đỏ, tổng trị giá 3.600.000 đồng của Công ty L4 thì bị phát hiện bắt giữ.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội đã truy tố.

[3] Về tính chất vụ án, hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp; gây mất trật tự trị an trong khu vực nên cần thiết phải xử lý và có hình phạt phù hợp mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều tham gia với vai trò là người thực hành.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt: Các bị cáo đều có nhân thân xấu, đã từng bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn không chịu tu dưỡng mà tiếp tục cố ý thực hiện hành vi phạm tội thể hiện thái độ thiếu ý thức tu dưỡng.

Bị cáo Q có tiền án chưa được xóa án lại phạm tội do cố ý nên phải chịu thêm tình tiết “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này, L là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội; sau khi phạm tội còn trốn tránh gây khó khăn cho Cơ quan điều tra nên phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án và phải chịu hình phạt tương đương với bị cáo Q.

Tuy nhiên, tài sản các bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn, đã được thu hồi trả đơn vị bị hại; sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo nên các bị cáo được xem xét giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Đơn vị bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo hoàn trả số tiền 330.000 đồng đã trả cho các bị cáo khi mua tài sản (đã bị thu hồi) nên cần ghi nhận.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Buộc cỏc bị cỏo nộp số tiền thu lời bất chớnh 330.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
  • - Chiếc xe kéo là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tuyên tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước; Chiếc biển kiểm soát 30K6-8087 không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
  • - Chiếc xe mô tô màu xanh, số khung: RLGSCI0KHBH068490, số máy VMSACB-H068490 là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. L khai mua xe của người khác không có giấy tờ, xe không có trong dữ liệu vật chứng. Vì vậy, cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước nếu hết thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo 11/9/2023 mà không tìm được chủ sở hữu.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Q, Nguyễn Phi L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt và điều luật áp dung:

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Trọng Q 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2023.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Phi L 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 228 Bộ luật Hình sự:

  • + Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn L3 không yêu cầu các bị cáo hoàn trả số tiền 330.000 đồng (ba trăm ba mươi nghìn đồng).
  • + Buộc các bị cáo phải nộp số tiền thu lời bất chính 330.000 đồng để sung quỹ Nhà nước; trong đó trách nhiệm của mỗi bị cáo là 165.000 đồng (một trăm sáu lăm nghìn đồng).
  • + Tịch thu tiêu hủy 01 biển kiểm soát soát 30K6-8087.
  • + Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 mô tô màu xanh, số khung RLGSCI0KHBH068490, số máy VMSACB-H068490, nếu hết thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo 11/9/2023 mà không tìm được chủ sở hữu.
  • + Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 xe kéo.

(Hiện trạng tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an quận H và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông, Hà Nội;
  • - Công an quận Hà Đông, Hà Nội;
  • - THADS quận Hà Đông, Hà Nội;
  • - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hòa

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 06/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger