TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2024/HS-ST
Ngày 09-01-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Văn Chiến
Ông Lương Hữu Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tú, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2023/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
- - Thạch Nương; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1998, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch N, sinh năm 1969 và bà Thạch Thị Pha L,; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không có; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án và chưa bị xử lý hành chính lần nào; Bị tạm giữ ngày 19/8/2023 đến ngày 25/8/2023 bị khởi tố và chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.
- - Bị hại: Ông Thạch Đ, sinh năm 1982. Địa chỉ B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (đã chết ngày 25/8/2023).
- - Đại diện hợp pháp của bị hại Thạch Đ:
- Bà Thạch Thị D, sinh năm 1958. Địa chỉ B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
- Bà Thạch Thị L1, sinh năm 1988. Địa chỉ B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
- Chị Thạch Thị T, sinh ngày 14/6/2005. Địa chỉ B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
Người đại diện cho bà Thạch Thị D, bà Thạch Thị L1, và chị Thạch Thị T theo ủy quyền: Bà Thạch Thị L2, sinh năm 1991. Địa chỉ B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (văn bản ủy quyền ngày 23/10/2023), có mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
- Bà Thạch Thị H, sinh năm 1956. Địa chỉ B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
- Bà Thạch Thị L2, sinh năm 1991. Địa chỉ B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
- Ông Trịnh Thanh G, sinh năm 1986. Địa chỉ ấp L, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
- - Người làm chứng;
- Ông Thạch Long L3, sinh năm 1987. Địa chỉ B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh vắng mặt.
- Bà Thạch Thị P, sinh năm 1962. Địa chỉ B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
- Ông Thạch Huỳnh T1, sinh năm 1983. Địa chỉ B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh vắng mặt.
- Ông Thạch T2, sinh năm 1952. Địa chỉ B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
- - Người phiên dịch: Ông Thạch D1, sinh năm 1957. Địa chỉ khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 17 giờ, ngày 18/8/2023, bị cáo Thạch N1 cùng với ông Thạch Long L3 ngồi uống nước và nói chuyện tại hành lang phía trước nhà của bà Thạch Thị H. Lúc này có ông Thạch Đ đã có uống rượu, đi bộ ngang nhà bà H thì thấy ông L3. Ông Đ cho rằng ông L3 từng chửi mình nên dùng tay chỉ ông L3 và hỏi: “Mấy hôm trước mày chửi tao phải không?” thì giữa ông Đ và ông L1 c nhau. Ông L3 kêu ông Đ đi về, có gì mai nói chuyện nhưng ông Đ không chịu về. Lúc này, bị cáo N1 lên tiếng, nói với ông L3: “Thôi mày im đi, nhà tao ồn quá, ổng sỉn rồi”. Bị cáo N1 cũng nói với ông Đ: “Chú Đ về đi, say rồi” thì ông Đ trả lời: “Nhà này không phải nhà mày, mày không có quyền”. Bị cáo N1 trả lời: “Đất là đất bác hai tôi, ông về đi”. Lúc này, bà H nghe ồn ào phía trước nên từ nhà sau đi lên nhà trước khuyên ông Đ đi về nhưng ông Đ cũng không chịu về nên bà H bỏ đi. Ông Đ thì đứng ngoài lộ đanl tiếp tục cải nhau với bị cáo N1 khoảng 05 phút. Trong lúc cải nhau, ông Đ có chửi thề đối với bị cáo N1. Sau đó, bị cáo N1 đứng dậy đi từ hành lang nhà bà H ra chỗ ông Đ. Khi đến chỗ ông Đ, bị cáo N1 đứng đối diện với ông Đ, cách ông Đ khoảng 01m. Bị cáo N1 vừa nói: “Chú về đi” vừa dùng tay trái (không cầm hung khí) là tay nghịch của bị cáo xô 01 cái vào vùng trên của ngực phải làm ông Đ bị té, ngã ngữa ra sau xuống đường đanl. Lúc té ngã, ông Đ không kịp dùng tay để chống đỡ. Sau khi bị ngã, toàn thân của ông Đ từ đầu đến chân nằm hoàn toàn trên lộ đanl, phần đầu quay về hướng hàng rào phía trước nhà bà Thạch Thị P, phần chân quay về hướng nhà bà H, tư thế nằm ngang trên lộ đanl. Sau đó, bị cáo bỏ đi vào hành lang nhà của bà H. Lúc này, bà H nghe thấy nên chạy ra chỗ ông Đ, bà P đang đứng trước nhà nhìn thấy vụ việc nên cũng chạy ra chỗ ông Đ. Bà P nói với bị cáo N1: “Nó say rồi mày kêu tao đưa nó về, mày xô nó làm chi”. Sau đó, ông Thạch T2 và ông Thạch Huỳnh T1 cũng đến hiện trường. Ông T1 và bà P cùng nhau đưa ông Đ về nhà của ông Đ giao cho mẹ ruột của ông Đ là bà Thạch Thị D trông coi. Riêng bị cáo N1 ngủ tại nhà bà H đến khoảng 04 giờ 30 phút, ngày 19/8/2023 thì cùng với ông L3 đi đến tỉnh Long An để làm thuê nhưng sau khi hay tin ông Đ hôn mê thì đến 14 giờ, ngày 19/8/2023, bị cáo N1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đầu thú, khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi nêu trên. Riêng ông Đ thì đến sáng ngày 19/8/2023 bị hôn mê được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T và tử vong vào ngày 25/8/2023 do chấn thương sọ não nặng.
Căn cứ Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 276/KLTTCT-2023 ngày 23/8/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh T xác định: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Thạch Đ tại thời điểm giám định là 54% (năm mươi bốn phần trăm). Cơ chế hình thành vết thương: Do ngoại lực tác động gián tiếp, vật gây ra thương tích là vật tày cứng, hướng tác động từ trước ra sau.
Căn cứ Kết luận giám định tử thi số 645/KLGĐTT-KTHS ngày 29/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Nguyên nhân chính dẫn đến ông Thạch Đ tử vong là do chấn thương sọ não nặng.
Tại Cáo trạng số: 69/CT-VKS-HS, ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Thạch N1 về tội cố ý gây thương tích quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Thạch N1 trình bày: Khoảng 17 giờ, ngày 18/8/2023, trên đoạn đường đanl thuộc ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Do bị hại Thạch Đ đã say rượu và cự cải với bị cáo nên bị cáo đã dùng tay xô đẩy vào ngực phải của ông Đ, làm cho ông Đ bị ngã ngữa ra sau, té xuống đường đanl, sau đó ông Đ chết do chấn thương sọ não nặng, cái chết của bị hại do bị cáo gây ra.
Đại diện gia đình bị hại là bà Thạch Thị L2 yêu cầu bị cáo Thạch N1 bồi thường dân sự cho gia đình ông Đ với tổng số tiền 140.500.000 đồng (tiền xe cấp cứu, xe chở nạn nhân về, tiền thuốc điều trị 10.000.000 đồng, tiền mai táng 20.000.000 đồng, tiền ngày công lao động của của L2, ông G 2.800.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại 15.000.000 đồng, tiền cấp dưỡng cho 02 con của bị hại đến 18 tuổi bằng 92.700.000 đồng). Bị cáo Thạch N1 đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền nói trên cho gia đình bị hại và bà L2, ông G.
Bà Thạch Thị H trình bày: Bị cáo Thạch Nương hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, không có nhà ở, đối với số tiền 5.000.000 đồng bà nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện T là tiền của bị cáo Thạch N1, do bị cáo bị tạm giam nên bị cáo có nhờ bà nộp dùm để khắc phục một phần thiệt hại cho gia đình bị hại.
Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, tính chất mức độ hành vi của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Thạch N1 phạm tội “cố ý gây thương tích”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo Thạch N1 từ 07 năm đến 08 năm tù. Về trách nhiệm dân sự, căn cứ các điều 584, 585, 586, 590, 591 Bộ luật Dân sự năm 2015 đề nghị công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Thạch N1 bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 140.500.000 đồng. Về án phí hình sự đề nghị buộc bị cáo chịu 200.000 đồng và buộc bị cáo phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Thạch N1 có lời khai thừa nhận khoảng 17 giờ, ngày 18/8/2023, trên đoạn đường đanl thuộc ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Bị cáo Thạch N1 đã dùng tay xô đẩy trực tiếp vào vùng trên ngực phải của ông Thạch Đ, làm cho ông Đ bị ngã ngữa ra sau, té xuống đường đanl (té ngửa). Hậu quả là ông Đ bị tử vong do chấn thương sọ não nặng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Thạch N1 là phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với thời gian bị cáo có mặt tại hiện trường vụ án, phù hợp lời khai của những người có mặt tại hiện trường vụ án như: Ông Thạch Long L3, bà Thạch Thị H, ông Thạch T2, bà Thạch Thị P, ông Thạch Huỳnh T1 và phù hợp với kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 276/KLTTCT-2023 ngày 23/8/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh T và Kết luận giám định tử thi số 645/KLGĐTT-KTHS ngày 29/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T.
[2] Hành vi của bị cáo Thạch N1 đã xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng của bị hại Thạch Đ được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo Thạch N1 thực hiện hành vi dùng tay xô đẩy trực tiếp vào vùng trên ngực phải của ông Thạch Đ buộc bị cáo phải ý thức được sẽ làm cho ông Đ té xuống đường đanl sẽ gây nguy hiểm đến sức khoẻ ông Thạch Đ, tuy bị cáo không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả chết người, nhưng pháp luật buộc bị cáo phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó. Hậu quả ông Thạch Đ tử vong có mối quan hệ nhân quả do hành vi của bị cáo gây ra. Do đó, cáo trạng số: 69/CT-VKS-HS, ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Thạch N1 về tội cố ý gây thương tích quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.
[3] Tội phạm bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã tước đi tính mạnh của bị hại gây đau thương, mất mác cho gia đình bị hại không thể bù đắp, khắc phục được nên hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo pháp luật, cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm để giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội đối với những hành vi tương tự. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét quan điểm của người bào chữa cho bị cáo là quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bà Thạch Thị H là cô ruột bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả dùm bị cáo số tiền 5.000.000 đồng, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, là thành phần nhân dân lao động, là người dân tộc thiểu số và có trình độ học vấn thấp; nguyên nhân xảy ra vụ án do bị hại chửi bị cáo nên bị hại cũng có một phần lỗi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại là bà Thạch Thị L2 yêu cầu bị cáo Thạch N1 bồi thường dân sự cho gia đình ông Đ với tổng số tiền 140.500.000 đồng. Bị cáo Thạch N1 đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền trên (trong đó số tiền chi phí mai táng, tiền xe, tiền thuốc cấp cứu và ngày công lao động của bà L2, ông G là 32.800.000 đồng, còn lại của gia đình bị hại 107.700.000 đồng). Xét sự thoả thuận giữa bị cáo và bà L2 là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận. Tiếp tục quản lý số tiền 5.000.000 đồng do bà Thạch Thị H nộp khắc phục hậu quả để đảm bảo thi hành án.
[6] Về vật chứng: Không có
[7] Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 05% án phí dân sự của số tiền phải bồi thường thiệt hại (140.500.000 đồng x 5%) theo quy định của pháp luật.
[8] Hội đồng xét xử đã thẩm tra các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố và thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Thạch N1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Thạch N1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/8/2023.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Căn cứ các điều 584, 585, 586, 590, 591 Bộ luật dân sự năm 2015;
Công nhận sự tự nguyện của bị cáo bị cáo Thạch N1 bồi thường cho bà Thạch Thị D, chị Thạch Đ1 và chị Thạch Thị T3 tổng số tiền 107.700.000 đồng
Công nhận sự tự nguyện của bị cáo bị cáo Thạch N1 bồi thường cho bà Thạch Thị L2, ông Trịnh Thanh G số tiền 32.800.000 đồng
Khi án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án được Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án đúng theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Tiếp tục quản lý số tiền 5.000.000 đồng do bà Thạch Thị H nộp khắc phục hậu quả thay bị cáo (biên lai thu tiền số: 0002391 ngày 04/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú) để đảm bảo thi hành án.
Việc xử lý vật chứng: Không
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 7.025.000 đồng (140.500.000 đồng x 5%) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Trịnh Thanh G vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết công khai hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật T hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thihành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Truyền |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lương Hữu Thanh | Ngô Văn Chiến | Nguyễn Văn Truyền |
Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 06/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thạch Nương
