TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09 - 01 - 2024 “V/v Tranh chấp về hôn nhân gia đình ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Liêm và ông Lê Văn Phụng.
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 639/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 571/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 667/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị Kiều N, sinh năm 2002; địa chỉ: khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
Bị đơn: Ông Bùi Quốc K, sinh năm 2000; địa chỉ: khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Thị Kiều N trình bày, bà và ông Bùi Quốc K do quen biết tiến tới hôn nhân vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là thị trấn H), huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 13/9/2022, thời gian chung sống đến đầu năm 2023 thì xảy do mâu thuẫn do hay cự cãi, hiện vợ chồng không còn chung sống với nhau từ đó đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã quá trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Quốc K.
- Về con chung: có 01 con chung tên Võ Minh L, sinh ngày 24/3/2019. Hiện nay, con chung đang sống với bà, khi ly hôn bà N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Bùi Quốc K vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông K, trong quá trình giải quyết vụ án
Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của bà N là: Trích lục kết hôn, Giấy khai sinh của cháu Võ Minh L và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa:
- Bà Võ Thị Kiều N trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không có tài liệu, chứng cứ nào khác cung cấp tại phiên tòa. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà N xác định do cháu Võ Minh L đăng ký khai sinh không có tên cha, hôn nhân của bà với ông K được xác lập sau khi sinh cháu L, nên bà đề nghị rút lại yêu cầu về nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ông Bùi Quốc K vắng mặt, nên không ghi nhận được ý kiến, do ông K vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 mà không có lý do.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Đối với nguyên đơn: Bà Võ Thị Kiều N đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Bùi Quốc K vắng mặt tại phiên tòa, nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Bà Võ Thị Kiều N và ông Bùi Quốc K, có đăng ký kết hôn, nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, quá trình chung sống giữa bà N, ông K có mâu thuẫn do ông K không quan tâm chăm lo cho vợ, con, quá trình giải quyết vụ án ông K không có ý kiến về yêu cầu ly hôn của bà N. Như vậy, việc ông K vắng mặt thể hiện không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N đối với ông K.
Về con chung: do tại phiên tòa bà N rút yêu cầu khởi kiện, nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.
Về tài sản chung, nợ chung: không có yêu cầu, nên không đề cập xem xét, giải quyết.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Bà Võ Thị Kiều N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Bùi Quốc K, cả bà N và ông K đều cư trú trên địa bàn huyện C. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Kiều N trình bày giữa bà và ông K kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, chung sống từ năm 2018, nhưng đến năm 2022 mới thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên Hôn nhân của bà và ông K được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Trong giai đoan chuẩn bị xét xử, cũng như tại phiên tòa, bà N khẳng định không còn tình cảm với ông K, nguyên nhân mâu thuẫn theo bà N là do vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, vợ chồng không còn chung sống từ đầu năm 2023 đến nay; theo trình bày của bà N, thì thấy hôn nhân giữa bà với ông K là có mâu thuẫn, hôn nhân phải được xây dựng, vun đắp tình cảm của cả hai, nhưng đến nay bà N không còn tình cảm với ông K; quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông K, nhưng ông không có ý kiến về yêu cầu ly hôn của bà N, điều này cho thấy ông K không có mong muốn hằn gắn tình cảm, nên có cơ sở xác định tình cảm giữa bà N và ông K là có mâu thuẫn, nên tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông K là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, việc bà N yêu cầu ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.
[2.2] Về quan hệ con chung: tại phiên tòa, bà N đề nghị rút yêu cầu về con chung đối với cháu tên Võ Minh L, sinh ngày 24/3/2019, với lý do: cháu L được sinh ra trước khi bà và ông K đăng ký kết hôn, con chung không đăng ký khai sinh có tên ông K, nên xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết; việc rút yêu cầu về con chung của bà N không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội và hoàn toàn tự nguyện. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này. Bà N có quyền khởi kiện yêu cầu về nuôi con, nếu có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.3] Về tài sản chung: bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Võ Thị Kiều N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông Bùi Quốc K không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 và Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 227, 217, 244, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Võ Thị Kiều N đối với ông Bùi Quốc K;
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Kiều N được ly hôn với ông Bùi Quốc K. Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã H (nay là thị trấn H), huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Võ Thị Kiều N, ông Bùi Quốc K không còn giá trị pháp lý.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu về nuôi con của bà Võ Thị Kiều N đối với cháu Võ Minh L, sinh ngày 24/3/2019.
- Về quan hệ tài sản chung: không đề cập xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: không đề cập xem xét, giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Võ Thị Kiều N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014097 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 17 tháng 10 năm 2023; bà Võ Thị Kiều N đã nộp đủ án phí.
Ông Bùi Quốc K không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Kiên |
Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về hôn nhân gia đình ly hôn
- Số bản án: 06/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân gia đình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà N yêu cầu ly hôn với ông T
