TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2024/DS-ST Ngày 08-7-2024 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Nga
Bà Phạm Thị Thanh Hiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 66/2023/TLST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 514/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 604/2024/QĐST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 541/2024/QĐST-DS ngày 20/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng); địa chỉ trụ sở chính: Số B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T – Nhân viên Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Theo Giấy ủy quyền số 1001/2023/UQ-TGĐ ngày 13/4/2023); vắng mặt và có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt;
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số C H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện hợp pháp của Ngân hàng trình bày:
Ngày 16/6/2019, Ông Nguyễn Thanh T1 có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi cấp thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 2.328.628.892 đồng và các khoản phải thanh toán bao gồm phí trễ hạn 2.340.983 đồng, lãi trong hạn 54.410.009 đồng, phí vượt hạn mức 1.045.524 đồng, phí 5.182.000 đồng, tổng số tiền ông T1 phải thanh toán cho Ngân hàng là 2.586.331.588 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay Ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi là 2.222.145.000 đồng, sau đó Ông T1 không tiếp tục trả tiền cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 26/11/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông T1 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tin dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 08/7/2024, ông Nguyễn Thanh T1 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là: 364.186.588 đồng trong đó số tiền nợ gốc: 169.462.408 đồng; nợ lãi quá hạn: 194.724.180 đồng.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông T1, yêu cầu ông T1 có trách nhiệm thanh toán khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông T1 trả nợ, tuy nhiên đến nay ông T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng và đã vi phạm các điều khoản quy định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết như sau:
- Buộc ông Nguyễn Thanh T1 phải trả ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/7/2024 là 364.186.588 đồng trong đó số tiền nợ gốc: 169.462.408 đồng; nợ lãi quá hạn: 194.724.180 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/6/2019 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng.
- Ông Nguyễn Thanh T1 phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 09/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
3
* Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho ông T1 theo đúng quy định pháp luật, nhưng ông T1 không đến làm việc theo quy định.
Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về hướng giải quyết vụ án: Xét Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Thanh T1 đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 08/7/2024 là 364.186.588 đồng trong đó số tiền nợ gốc: 169.462.408 đồng; nợ lãi quá hạn: 194.724.180 đồng. Ông T1 còn phải tiếp tục thanh toán số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 09/7/2024 cho đến khi tất toán xong theo hợp đồng tín dụng đã ký.
Về án phí: Ông T1 phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hợp đồng thẻ tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Thanh T1 với mục đích tiêu dùng cá nhân nên được xác định là tranh chấp Hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 có nơi ở hiện tại A6/2 Quốc lộ A, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn đã ghi đúng địa chỉ của bị đơn theo Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Tuy nhiên, theo xác minh của Công an P, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “Không có địa chỉ A Quốc lộ A, Phường B, Quận B; không có ông Nguyễn Thanh T1 tại địa chỉ nêu trên”. Ông Nguyễn Thanh T1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số C H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
4
- Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Nguyễn Thanh T1.
- Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/6/2019 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Thanh T1 là tự nguyện. Hình thức và nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi vậy hợp đồng tín dụng được ký giữa các bên là hợp pháp và có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên ký kết hợp đồng. Trong toàn bộ quá trình thực hiện hợp đồng thẻ, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số nợ phát sinh là 2.586.331.588 đồng, ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 2.222.145.000 đồng. Ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 26/11/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông T1 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 08/7/2024, ông T1 còn nợ Ngân hàng TMCP S tổng số tiền là 364.186.588 đồng trong đó số tiền nợ gốc: 169.462.408 đồng; tiền lãi quá hạn: 194.724.180 đồng. Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ đối với ông T1 nhưng ông T1 đều vắng mặt không có lý do và không trình bày quan điểm của mình. Do vậy chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc ông Nguyễn Thanh T1 phải trả cho Ngân hàng số nợ trên và số lãi phát sinh từ ngày 09/7/2024 cho đến khi tất toán khoản nợ theo các hợp đồng đã ký kết.
- Về án phí: ông Nguyễn Thanh T1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 116, 117, 280, 463, 465, 466 của Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ vào các điều 90, 91, 94, 95, 98 Luật Các Tổ chức Tín dụng;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Q1.
* Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
5
Buộc ông Nguyễn Thanh T1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 08/7/2024 là 364.186.588 đ (Ba trăm sáu mươi tư triệu, một trăm tám mươi sáu nghìn, năm trăm tám mươi tám đồng) trong đó số tiền nợ gốc: 169.462.408 đ (một trăm sáu mươi chín triệu, bốn trăm sáu mươi hai nghìn, bốn trăm linh tám đồng); nợ lãi quá hạn: 194.724.180 đ (một trăm chín mươi tư triệu, bảy trăm hai mươi bốn nghìn, một trăm tám mươi đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/6/2019 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/7/2024), ông Nguyễn Thanh T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông T1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí: Ông Nguyễn Thanh T1 phải chịu 18.209.329 đồng (mười tám triệu hai trăm linh chín nghìn ba trăm hai mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.126.000 đồng (Sáu triệu, một trăm hai mươi sáu nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0019330 ngày 09 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyền kháng cáo đối với bản án:
Ngân hàng TMCP S; ông Nguyễn Thanh T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Ngọc Hà |
Bản án số 06/2024/DS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 06/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
