Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Số: 06/2024/HS-ST

Ngày: 08-01-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Đình Kiên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Diệm
Ông Trần Kim Thành

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Hoàng Long – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thủy H - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 02 và 08 tháng 01 năm 2024 tại Toà án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 161/2023/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2023/QĐST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1980 tại Hà Nội Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Cán bộ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ. Con ông: Nguyễn Văn T1, (đã chết) và bà: Lê Thị G, sinh năm: 1929. Gia đình có 07 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1959, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Vợ bị cáo: Nguyễn Thị Thúy T2, sinh năm: 1984. Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/06/2023 đến nay.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đoàn Văn T3, sinh năm: 1966; Bà Phan Thị Thanh H1, sinh năm 1969; Cùng địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Đại diện theo ủy quyền của ông T3 và bà H1 là ông Hoàng Quốc T4, sinh năm: 1995. Địa chỉ: Số D, Quốc lộ A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
  2. Ông Nguyễn Hồng P, sinh năm: 1976. Địa chỉ: Khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
  3. Ông Đào Đình C, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
  4. Ông Đinh Trọng T5, sinh năm: 1967. Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
  5. Ông Nguyễn Xuân H2, sinh năm: 1967. Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Tại phiên toà bị cáo T, ông Hoàng Quốc T4, ông Đinh Trọng T5 có mặt, những người tham gia tố tụng còn lại có đơn xin xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08 tháng 4 năm 1996, ông Đoàn Văn T3 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lê Thị N, ngày 25/9/2001 Ủy ban nhân dân ( viết tắt UBND) tỉnh Bình Phước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (viết tắt GCNQSD) đất cho hộ ông Đoàn Văn T3 thửa số 52, tờ bản đồ số 42, diện tích 338,5m² trong đó có 300m² đất thổ cư, tại khu phố T, phường T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước, nhưng chưa giao GCNQSD đất cho ông T3. Ngày 30/6/2008, UBND thị xã Đ Quyết định số 3086 thành lập tổ công tác giải quyết hồ sơ địa chính trước ngày 01/01/2005 đến nay còn tồn đọng.

Ngày 17/11/2009, ông T3 hoàn tất các thủ tục cấp GCNQSD đất, lúc này khu phố T, phường T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước đã tách thành Khu phố T, phường T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước. Tại biên bản xác minh vị trí loại đất, hạng đất, hạn mức đất ở ngày 24/11/2009 ông Đào Đình C cán bộ địa chính phường T ký “xác nhận xin cấp thổ cư lần 1 tại phường T” có xác nhận của Chủ tịch UBND phường T Nguyễn Hữu H3, đại diện Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (VPĐKQSDĐ) Bùi Anh T6.

Tại phiếu chuyển thông tin địa chính để xác định nghĩa vụ tài chính ngày 14 tháng 12 năm 2009 do VPĐKQSDĐ lập, xác định “cấp thổ cư lần 1, trong hạn mức”, diện tích sử dụng riêng là 300m² đất thổ cư, diện tích cây lâu năm là 38,8m². Ngày 26/12/2009, Chi cục thuế thị xã Đ thông báo nộp tiền sử dụng đất, tổng số tiền phải nộp là 28.800.000đồng miễn giảm tiền sử dụng đất là 7.200.000đồng; thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất là 450.105đồng.

Ngày 21/01/2015, ông Đoàn Văn T3 làm đơn xin cấp GCNQSDĐ thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42, cùng tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố Đ. Sau khi mua hồ sơ về, ông T3 hướng dẫn bà Phan Thị Thanh H1 (vợ ông T3) khai hồ sơ, ông T3 ký tên và đến nộp tại bộ phận một cửa của UBND phường T, trong đơn cam kết về hạn mức đất ở (không có ngày tháng) ông Đoàn Văn T3 cam kết “hiện tại gia đình tôi chưa được giao đất ở và chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở lần nào hoặc đã được giao đất ở và chuyển mục đích sang đất ở đối với các thửa đất”.

Khi nhận hồ sơ, ông Đào Đình C là cán bộ địa chính phường T tiếp nhận, thẩm tra. Ông C cùng ông Lê Xuân T7 (Phó trưởng khu phố T) tiến hành Họp dân xác minh đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận tại nội dung khác thể hiện "xin cấp thổ cư lần 1, không có đất ở, ở chỗ khác”, lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất vào ngày 03/02/2015, xác nhận đề nghị cấp thổ cư lần 1, đại diện các hộ dân Nguyễn Văn L, Đặng Thị Ngọc Á, Vũ Thị C1, Lê Thị N, Trần Thị L1, ký tên. Ngày 11/02/2015, ông C làm Thông báo về việc công khai hồ sơ đăng ký cấp mới giấy chứng nhận hộ ông Đoàn Văn T3, có nội dung xin cấp thổ cư lần đầu, ông Đinh Trọng T5 - Phó Chủ tịch phường T ký. Đến ngày 10/03/2015 ông C lập biên bản kết thúc công khai hồ sơ đăng ký cấp mới giấy chứng nhận của hộ ông Đoàn Văn T3, xác nhận và ký vào đơn xin cấp GCNQSDĐ thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42 ngày 21/01/2015 của ông Đoàn Văn T3, Ông Đinh Trọng T5 - Phó Chủ Tịch ký vào phần T.M Uỷ ban nhân dân và làm tờ trình số 18, về việc xin cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Khi tham mưu cho Phó Chủ tịch UBND phường T Đinh Trọng T5 ký vào đơn xin cấp GCNQSDĐ thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42 ngày 21/01/2015 của ông Đoàn Văn T3 và ký tờ trình chuyển VPĐKQSDĐ đề nghị UBND thị xã Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông T3 năm 2015 tại thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42, ông C có kiểm tra sổ mục kê thấy có ghi hộ ông Đoàn Văn T3 đã đăng ký sở hữu thửa số 52, tờ bản đồ số 42 có diện tích là 338,5 m², trong đó đất vườn 38,5 m², đất ở 300 m², đây là số liệu hộ ông T3 đăng ký ở thời điểm đo chính quy năm 1998 nhưng cột số sổ, ngày cấp để trống nên ông C không kiểm tra lại hộ ông T3 đã được cấp GCNQSDĐ hay chưa mà tin tưởng vào kê khai của ông T3, xác nhận của các hộ dân, đại diện khu phố, ký xác nhận cấp đất ở lần một tại phường T cho hộ ông T3.

Ông C tham mưu cho ông Đinh Trọng T5, nguyên Phó chủ tịch UBND phường T, thị xã Đ (hiện đã nghỉ việc), do tin tưởng ông C (cán bộ địa chính), không kiểm tra đối chiếu lại sổ địa chính, sổ mục kê ký tờ trình và xác nhận hồ sơ chuyển VPĐKQSDĐ thị xã Đồng Xoài thẩm định.

Khi nhận hồ sơ từ bộ phận một cửa của UBND thị xã Đ, Nguyễn Văn T là cán bộ VPĐKQSDĐ thị xã Đồng Xoài thẩm tra hồ sơ, kiểm tra thấy đủ thành phần hồ sơ theo bộ thủ tục hành chính, nên không kiểm tra, đối chiếu với sổ địa chính, sổ mục kê mà chỉ căn cứ vào hồ sơ xét duyệt về việc cấp GCNQSDĐ có xác nhận của UBND phường T và Đơn cam kết về hạn mức đất ở của ông T3 nên không phát hiện năm 2001 hộ ông T3 đã được cấp 300m² trong hạn mức đất ở, ngày 14/5/2015 T căn cứ vào nguồn gốc sử dụng đất của UBND phường T xác nhận đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật vào Đơn cấp GCNQSDĐ trình ông Nguyễn Hồng P – nguyên Phó Giám đốc VPĐKQSDĐ thị xã Đ ký xác nhận. Ngày 02/6/2015, T viết Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai “xác định đất ở trong hạn mức là 105,8 m²”.

Khi ký xác nhận hồ sơ trên ông P tin tưởng vào Nguyễn Văn T (cấp dưới) đã thẩm tra, đối chiếu hồ sơ trước khi trình ký nên không kiểm tra mà ký xác nhận hồ sơ đơn xin cấp GCNQSDĐ) và phiếu chuyển thông tin địa chính để xác định nghĩa vụ tài chính chuyển Chi cục thuế thị xã Đ tính thuế với diện tích đất ở trong hạn mức 105,8m². Ngày 08/6/2015, Chi cục thuế thị xã Đ căn cứ vào phiếu chuyển thông tin địa chính xác định đất ở trong hạn mức giao đất là 105,8m² xác định hộ ông T3 không phải nộp tiền sử dụng đất.

Ngày 05/6/2015, UBND thị xã Đ ký Quyết định số 1836/QĐ-UBND về việc cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ ông Đoàn Văn T3. Trong đó đất ở trong hạn mức giao đất ở là 105,8m² (nguồn gốc đất do mẹ ông T3 khai phá trước năm 1975).

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Chương III Quy định ban hành quy định diện tích tách thửa đất đối với đất ở, hạn mức đất ở khi nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước (theo Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của UBND tỉnh) thì hộ ông Đoàn Văn T3 đã được công nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 52, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại khu phố T, phường T với diện tích 300m², đến năm 2015, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Đ đề nghị UBND thị xã Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Đoàn Văn T3 và không thu tiền sử dụng đất diện tích 105,8m² là sai quy định của pháp luật.

Công văn số 4067/CCT-TT-TB ngày 31/8/2022 Chi cục Thuế khu vực Đ – Đ xác định: Số tiền sử dụng đất mà hộ ông Đoàn Văn T3 phải nộp là 240.695.000 đồng.

Công văn số 1084/STNMT-VPDKĐĐ ngày 09/6/2022 của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B xác định:

Đối với hồ sơ cấp mới thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42 năm 2015: Thửa đất này có nguồn gốc do bà Trịnh Thị H4 (mẹ ông T3) khai phá trước năm 1975 và ở ổn định từ trước năm 1975 đến khi bà chết để lại cho ông T3. Ngày 02/6/2015 Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Đ (nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ) ban hành phiếu chuyển thông tin số 2146 xác định đất ở trong hạn mức với diện tích là 105,8 m².

Do đó việc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Đ (nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ) xác định phiếu chuyển thông tin địa chính nêu trên trong hạn mức đất ở có sai sót, chưa đúng với quy định về hạn mức đất ở trên địa bàn tỉnh Bình Phước theo quyết định số 31/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của UBND tỉnh B.

Công văn số 2362/STNMT-VPDKĐĐ ngày 15/9/2023 của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B xác định:

Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Đ (nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ) sử dụng Đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo mẫu số 04a/ĐK để giải quyết hồ sở của người dân là đúng với hướng dẫn tại thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T8.

Theo quy định tại Điều 70, Nghị định 43/NĐ-CP và khoản 3, Điều 3, Nghị định số 45/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất, UBND cấp xã chỉ có trách nhiệm xác nhận vào Đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo mẫu số 04a/ĐK đối với các nội dung: Xác nhận hiện trạng sử dụng đất so với nội dung kê khai đăng ký; trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định này thì xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch mà không phải xác nhận diện tích đất ở đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong Đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm kê khai và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của việc kê khai diện tích thửa đất trong hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận đất ở được áp dụng tính thu tiền sử dụng đất.

Biên bản làm việc ngày 23/11/2023 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B xác định: Chí nhánh Chi nhánh Văn phòng Đ có trách nhiệm chuyển thông tin địa chính đến Cơ quan Thuế để xác định nghĩa vụ tài chính. Trong phiếu chuyển thông tin địa chính Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai phải xác định hạn mức đất ở trong hay ngoài hạn mức.

Tại bản Kết luận giám định số 60/KL(TL)-KTHS ngày 12/10/2022, Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký mang họ tên Đào Đình C trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký đứng tên Đào Đình C trên tài liệu mẫu ký hiệu M2-M5, M8, M10, M11, M15 do cùng một người ký ra; Chữ ký mang họ tên Đinh Trọng T5 trên tài liệu cần giám định ký hiệu - A1 so với chữ ký đứng tên Đinh Trọng T5 trên tài liệu mẫu ký hiệu M2-M5, M8, M10, M12, M16 do cùng một người ký ra; Chữ ký mang họ tên Nguyễn Văn T trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký đứng tên Nguyễn Văn T trên tài liệu mẫu ký hiệu M1-M10, M13 do cùng một người ký ra; Chữ ký mang họ tên Nguyễn Hồng P trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký đứng tên Nguyễn Hồng P trên tài liệu mẫu kỳ hiệu M1-M11, M14 do cùng một người ký ra.

Tại bản Kết luận giám định số 79 /KL(TL)-KTHS ngày 13/12/2022 Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký chữ viết họ tên Đoàn Văn T3 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết họ tên Đoàn Văn T3 trên tài liệu mẫu ký hiệu M1-M11, M19 do cùng một người ký, viết ra.

Ngày 01/6/2023, Cơ quan Cảnh sách điều tra Công an thành phố Đ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với ông Nguyễn Văn T về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại khoản 01 Điều 360 Bộ luật Hình sự.

Ngày 18/9/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ có văn bản đề nghị Ban quản lý khu kinh tế tỉnh B, Văn phòng T, Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố Đ, Chi bộ khu phố T, phường T, Tp Đ xem xét, xử lý vi phạm khi thực hiện nhiệm vụ chuyên môn đối với ông Nguyễn Hồng P; ông Nguyễn Xuân H2, ông Đào Đình C và ông Đinh Trọng T5 trong việc xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42 cho hộ ông Đoàn Văn T3.

Vật chứng của vụ án: Ngày 11/08/2022, Chi cục thuế khu vực Đ giao nộp bản gốc: 01 đơn đăng ký cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42 của hộ ông Đoàn Văn T3. 01 phiếu chuyển thông tin xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 2146 ngày 02/06/2015 của VPĐKQSDĐ thị xã Đ.

Ngày 26/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã xử lý vật chứng trả lại cho Chi cục thuế khu vực Đ – Đ bản gốc: 01 đơn đăng ký cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42 của hộ ông Đoàn Văn T3. 01 phiếu chuyển thông tin xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 2146 ngày 02/06/2015 của VPĐKQSDĐ thị xã Đ.

Về khắc phục hậu quả phạm tội: Ngày 11/11/2022, bị cáo Nguyễn Văn T đã làm đơn xin khắc phục hậu quả thiệt hại do hành vi thiếu trách nhiệm của mình gây ra và nộp số tiền 250.000.000đồng.

Bản cáo trạng số 164/CTr-VKS, ngày 13 tháng 10 năm 2023 và công văn số 186/CV-VKS ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điểm d khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài trình bày:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, không mang tính chất vụ lợi, đã khác phục toàn bộ hậu quả của hành vi phạm tội, quá trình công tác bị cáo có nhiều thành tích và được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điểm d khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm d khoản 1 Điều 360; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 32; Điều 36; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” và xử phạt cải tạo không giam giữ bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng.

Kiến nghị với UBND thành phố Đ xem xét thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 12, tờ bản đồ số 42, diện tích 115,8m² trong đó có 105,8 m² đất thổ cư, tại khu phố T, phường T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước đã cấp cho hộ ông Đoàn Văn T3.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền bị cáo T khắc phục hậu quả của hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và kính mong Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo phạm tội chỉ do vô ý và sơ suất trong quá trình thẩm định, kiểm tra hồ sơ trong chuyên môn, nghiệp vụ, bị cáo phạm tội không có tính chất vụ lợi về vật chất hay tinh thần, trong gần 20 năm công tác trong ngành Tài nguyên và Môi trường bị cáo luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, đạt được nhiều khen thưởng, bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả của hành vi phạm tội giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Văn T3 và bà Phan Thị Thanh H1 là ông Hoàng Quốc T4 trình bày:

Hộ gia đình ông Đoàn Văn T3 và bà Phan Thị Thanh H1 đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa số 52, tờ bản đồ số 42, diện tích 338,5m² trong đó có 300m² đất thổ cư, tại khu phố T, phường T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước và thửa số 12, tờ bản đồ số 42, diện tích 115,5m² trong đó có 105,8 m² đất thổ cư, tại khu phố T, phường T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước.

Căn cứ theo quy định hạn mức đất ở của UBND tỉnh B, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42, diện tích 115,5m² trong đó có 105,8 m² đất thổ cư (đất ở), tại khu phố T, phường T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước và xác định 105,8 m² là đất ở trong hạn mức là không đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, sự việc sai phạm xảy ra không có lỗi của ông Đoàn Văn T3 và bà Phan Thị Thanh H1 vì ông T3, bà H1 là người có học thức thấp, chỉ làm thủ tục và điền vào các mẫu do cán bộ Nhà nước hướng dẫn. Ông T3, bà H1 không biết quy định hạn mức đất ở của Nhà nước.

Đại diện Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ, tỉnh Bình Phước ông Trần Tiến L2 trình bày:

Theo quy định pháp luật thì sau khi nhận hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cán bộ Chi nhánh Văn phòng đất đai phải có trách nhiệm tiến hành thẩm tra, xác minh hồ sơ, cũng như xác định diện tích đất ở trong hay ngoài hạn mức tại phiếu chuyển thông tin địa chính để cơ quan quản lý Thuế xác định nghĩa vụ tài chính của hộ dân.

Quá trình công tác ở Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, ngoài vi phạm do lỗi vô ý dẫn đến bị xét xử thì bị cáo T là người có chuyên môn nghiệp vụ cao, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được cơ quan và Lãnh đạo giao và được nhiều khen thưởng của cơ quan nơi công tác, cũng như Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B.

Do bị cáo T phạm tội do lỗi vô ý, không có vụ lợi cá nhân, đã khắc phục hậu quả của hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Trọng T5 trình bày:

Khi hộ gia đình ông T3 được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa số 52, tờ bản đồ số 42, diện tích 338,5m² trong đó có 300m² đất thổ cư, tại khu phố T, phường T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước thì địa phương không nắm được nên đã thực hiện những thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42, diện tích 115,5m² trong đó có 105,8 m² đất thổ cư, tại khu phố T, phường T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước như bản cáo trạng đã nêu.

Ông T5 xác định chính quyền địa phương cũng có một phần trách nhiệm do có thiếu sót trong quản lý đất đai nên dẫn đến sai phạm của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Văn T3 và bà Phan Thị Thanh H1 vắng mặt tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồng P, ông Đào Đình C, ông Nguyễn Xuân H2 vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin vắng mặt. Xét thấy, vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[3]. Về hành vi phạm tội, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo, ý kiến của đại diện Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ, lời trình bày của đại diện người có quyền nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Quốc T4, ông Đinh Trọng T5 tại phiên toà sơ thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 25/9/2001 Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bình Phước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất thửa số 52, tờ bản đồ số 42, diện tích 338,5m² trong đó có 300m² đất thổ cư (không thu tiền sử dụng đất), toạ lạc khu phố T, phường T, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Bình Phước cho hộ ông Đoàn Văn T3. Năm 2010, hộ ông Đoàn Văn T3 thực hiện đã thực hiện nghĩa vụ tài chính và được nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất đối với thửa số 52, tờ bản đồ số 42, diện tích 338,5m² trong đó có 300m² đất thổ cư, tại khu phố T, phường T, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Bình Phước.

Ngày 21/01/2015, ông Đoàn Văn T3 làm đơn xin cấp GCNQSD thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố Đ. Sau khi mua hồ sơ về, ông T3 hướng dẫn bà Phan Thị Thanh H1 (vợ ông T3) khai hồ sơ, ông T3 ký tên và đến nộp tại bộ phận một cửa của UBND phường T, trong đơn cam kết về hạn mức đất ở ông Đoàn Văn T3 cam kết “hiện tại gia đình tôi chưa được giao đất ở và chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở lần nào hoặc đã được giao đất ở và chuyển mục đích sang đất ở đối với các thửa đất”.

Ông Đào Đình C là cán bộ địa chính phường T khi tiếp nhận, thẩm tra hồ sơ hộ ông Đoàn Văn T3 có kiểm tra sổ mục kê thấy có ghi hộ ông Đoàn Văn T3 đã đăng ký sở hữu thửa số 52, tờ bản đồ số 42 có diện tích là 338,5 m², trong đó đất vườn 38,5 m², đất ở 300 m² nhưng cột số sổ, ngày cấp GCNQSD đất để trống nên ông C không kiểm tra lại hộ ông T3 đã được cấp GCNQSD đất hay chưa mà tin tưởng vào kê khai của ông T3 để tiến hành thủ tục cấp GCNQSD thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố Đ cho hộ ông Đoàn Văn T3.

Khi nhận hồ sơ từ bộ phận một cửa của UBND thị xã Đ, bị cáo Nguyễn Văn T là nhân viên Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (VPĐKQSDĐ) thị xã Đ (nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ) được giao nhiệm vụ xem xét, thẩm tra hồ sơ cấp GCNQSD thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố Đ của hộ ông Đoàn Văn T3. Bị cáo T kiểm tra hồ sơ thấy đủ thành phần hồ sơ theo bộ thủ tục hành chính nhưng không kiểm tra, đối chiếu với sổ địa chính, sổ mục kê. Vì thế, bị cáo T không phát hiện hộ ông T3 đã được cấp GCNQSD đất thửa số 52, tờ bản đồ số 42 có diện tích là 338,5 m² trong đó có 300m² đất ở trong hạn mức. Ngày 14/5/2015, bị cáo T căn cứ vào nguồn gốc sử dụng đất của UBND phường T, xác nhận đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật vào Đơn cấp GCNQSDĐ trình ông Nguyễn Hồng P – nguyên Phó Giám đốc VPĐKQSDĐ thị xã Đ ký xác nhận. Ngày 02/6/2015, bị cáo T làm phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42 trong đó “xác định đất ở trong hạn mức là 105,8 m²”. Chi cục thuế thị xã Đ căn cứ vào phiếu chuyển thông tin địa chính của VPĐKQSDĐ thị xã Đ xác định đất ở trong hạn mức giao đất - không phải nộp tiền sử dụng đất là 105,8m² cho hộ ông T3.

UBND thị xã Đ ban hành Quyết định số 1836/QĐ-UBND về việc cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42, diện tích 115,5 m², trong đó có diện tích giao đất ở trong hạn mức là 105,8m² tọa lạc tại khu phố T, phường T cho hộ ông Đ.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Chương III Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của UBND tỉnh B về quy định diện tích tách thửa đất đối với đất ở, hạn mức đất ở khi nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước thì hộ ông Đoàn Văn T3 đã được công nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 52, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại khu phố T, phường T với diện tích đất ở trong hạn mức là 300m², đến năm 2015, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Đ đề nghị UBND thị xã Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Đoàn Văn T3 đối với thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42 và không thu tiền sử dụng đất diện tích 105,8m² (đất ở trong hạn mức) là sai quy định của pháp luật.

Công văn số 4067/CCT-TT-TB ngày 31/8/2022 Chi cục Thuế khu vực Đ – Đ xác định: Số tiền sử dụng đất mà hộ ông Đoàn Văn T3 phải nộp là 240.695.000 đồng.

Việc bị cáo T khi thực hiện công việc, nhiệm vụ xem xét, thẩm tra hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42 cho hộ ông Đoàn Văn T3 đã không kiểm tra, đối chiếu với sổ địa chính, sổ mục kê nên không phát hiện hộ ông Đoàn Văn T3 đã được cấp đủ hạn mức đất ở trước đó là nguyên nhân chính dẫn đến UBND thị xã Đ cấp GCNQSD thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42 cho hộ ông Đoàn Văn T3 nhưng không thu số tiền sử dụng diện tích đất ở 105,8m² là 240.695.000 đồng.

Căn cứ vào hành vi thiếu trách nhiệm khi thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao, số tiền thất thoát của ngân sách Nhà nước là 240.695.000 đồng thì hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

“1. Người nào có chức vụ, quyền hạn vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 179, 308 và 376 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm:

  1. Làm chết người;
  2. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
  3. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
  4. Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.”

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính đúng đắn trong hoạt động quản lý hành chính về đất đai của Nhà nước. Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo T phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[4]. Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người có nhân thất tốt, trước khi phạm tội không vi phạm chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế của cơ quan nơi làm việc, bị cáo có con còn nhỏ. Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, phạm tội không có tính chất vụ lợi, trong quá trình làm việc đều thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, bị cáo có mối quan hệ tốt với đồng nghiệp, được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng nhiều lần và lãnh đạo cơ quan nơi công tác thừa nhận. Bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại của vụ án. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Hội đồng xét xử đã nhận định ở trên. Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, phạm tội không có tính chất vụ lợi, trước khi vụ án được khởi tố, bị cáo đã chủ động thừa nhận hành vi vi phạm và khắc phục toàn bộ thiệt hại. Mặt khác, tại phiên toà sơ thẩm, lãnh đạo Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ xác định quá trình công tác bị cáo là người có năng lực, chuyên môn nghiệp vụ cao, luôn hoàng thành tốt nhiệm vụ được giao và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và cũng thể hiện tính khoan hồng, nhân văn của Luật pháp.

[5]. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo hiện nay là viên chức tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ nhưng không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không xử phạt bổ sung đối với bị cáo T. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ sắp xếp công việc phù hợp với bị cáo T trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt cho bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6]. Về khắc phục thiệt hại:

Thiệt hại của vụ án là 240.695.000đồng. Bị cáo Nguyễn Văn T đã giao nộp số tiền 250.000.000đồng khắc phục hậu quả phạm tội. Bị cáo T đề nghị được nhận lại số tiền giao nộp còn dư sau khi khắc phục toàn bộ hậu quả phạm tội. Vì vậy, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 240.695.000đồng, trả lại cho bị cáo T số tiền 9.305.000đồng (chín triệu ba trăm lẻ lăm nghìn đồng) khắc phục hậu quả thiệt hại còn thừa.

[7]. Về các vấn đề khác của vụ án:

Ông T3 và bà H1 đang giữ GCNQSD thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố Đ nhưng chưa nộp tiền quyền sử dụng đất. Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị với Chi cục thuế khu vực Đ - Đ, UBND thành phố Đ và những cơ quan có thẩm quyền liên quan phối hợp truy thu đối với số tiền quyền sử dụng đất ông T3, bà H1 phải nộp hoặc tiến hành giải quyết, xử lý đối với GCNQSD thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố Đ cấp cho hộ ông T3 theo quy định pháp luật.

Đối với những thiếu sót, sơ suất trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ khi thực hiện trình tự cấp GCNQSD thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố Đ cho hộ ông T3 của ông Nguyễn Hồng P, ông Đào Đình C, ông Nguyễn Xuân H2, ông Đinh Trọng T5 đã được làm rõ trong quá trình điều tra nhưng chưa đến mức khởi tố, truy tố trong vụ án. Cơ quan cảnh sát Điều tra – Công an thành phố Đ đã có văn bản đề nghị Ban Quản lý khu công nghiệp tỉnh B, Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố Đ, Thành ủy thành phố Đ, Chi bộ khu phố T, phường T, thành phố Đ xem xét xử lý đối với cán bộ vi phạm. Hội đồng xét xử kiến nghị Ban Quản lý khu công nghiệp tỉnh B, phòng Tài nguyên và môi trường thành phố Đ, Thành ủy thành phố Đ, Chi bộ khu phố T, phường T, thành phố Đ và các cơ quan có thẩm quyền khác có liên quan xem xét xử lý cán bộ vi phạm theo những văn bản kiến nghị của Cơ quan cảnh sát Điều tra – Công an thành phố Đ đã ban hành.

Đối với hành vi ông Đoàn Văn T3 kê khai không đúng về đất ở để không phải nộp số tiền 240.695.000đồng sử dụng đất. Hành vi của ông T3 có dấu hiệu của tội Trốn thuế quy định tại Khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên đến nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan cảnh sát Điều tra – Công an thành phố Đ không xem xét xử lý. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét xử lý trong vụ án này.

[8]. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T phải chịu 200.000đồng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm d, khoản 1 Điều 360; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 32; Điều 36, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
  2. Xử phạt:

    Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự thành phố Đ, tỉnh Bình Phước nhận được quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình của bị cáo Nguyễn Văn TỦy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước có trách nhiệm phối hợp cùng Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thực hiện giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án.

    Trong thời gian chấp hành án, bị cáo Nguyễn Văn T phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Luật thi hành án Hình sự và bị khẩu trừ 10% thu nhập hàng tháng của bị cáo T để sung quỹ ngân sách Nhà nước.

  3. Kiến nghị với Ban quản lý khu công nghiệp tỉnh B, Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố Đ, Thành ủy thành phố Đ, Chi bộ khu phố T, phường T, thành phố Đ và các cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với những thiếu sót, sơ suất trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ khi thực hiện trình tự, thủ tục cấp GCNQSD thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố Đ cho hộ ông T3 của ông Nguyễn Hồng P, ông Đào Đình C, ông Nguyễn Xuân H2, ông Đinh Trọng T5.
  4. Kiến nghị với Chi cục thuế khu vực Đ – Đ, UBND thành phố Đ và những cơ quan có thẩm quyền liên quan phối hợp truy thu đối với số tiền quyền sử dụng đất hộ ông T3 phải nộp hoặc tiến hành giải quyết, xử lý đối với GCNQSD thửa đất số 12, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố Đ cấp cho hộ ông T3 theo quy định pháp luật.
  5. Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ: Các Điều 46; 47; 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

    Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: Số tiền 240.695.000đồng (hai trăm bốn mươi triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

    Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T: Số tiền 9.305.000đồng (chín triệu ba trăm lẻ lăm nghìn đồng).

    (Số tiền được nộp theo giấy nộp tiền vào tài khoản Công an thành phố Đ ngày 11/11/2022)

  6. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Văn T3, bà Phan Thị Thanh H1 và ông Đinh Trọng T5 được quyên kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồng P, ông Đào Đình C, ông Nguyễn Xuân H2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp pháp./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND Tp. Đồng Xoài;
  • - CCTHADS Tp. Đồng Xoài;
  • - CA Tp. Đồng Xoài;
  • - Cơ quan có kiến nghị;
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Đình Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 08/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

  • Số bản án: 06/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger