|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST Ngày 08 - 01 - 2024 “V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành và ông Hồ Bá Võ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 383/2023/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 358/2023/QĐST ngày 07 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1992; địa chỉ: Xóm C, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
Bị đơn: Anh Đặng Văn S, sinh năm 1989; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: Xóm C, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; hiện đang làm việc tại: Nhật Bản; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 26/10/2023, bản tự khai chị Lê Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh Đặng Văn S tự nguyện tìm hiểu, kết hôn với nhau vào ngày 20/02/2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, chị và anh S chung sống với nhau hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do năm 2019, anh S đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Thời gian đầu chị và anh S thường xuyên giữ liên lạc, quan tâm đến nhau. Tuy nhiên, đến tháng 01/2023, anh S ít liên lạc, thăm hỏi, quan tâm đến chị và con, không gửi tiền về để nuôi con. Do đó, mỗi lần liên lạc vợ chồng thường xảy ra cãi vã. Đã 05 tháng nay, chị và anh S không còn liên lạc với nhau. Nay chị thấy, vợ chồng xa cách nhau về mặt địa lý, tình cảm nhạt phai, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài không thể giải quyết, cho đến nay chị và anh S không còn liên lạc, quan tâm đến nhau, không còn tình cảm với nhau. Vì vậy, chị viết đơn này đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị N được ly hôn anh Đặng Văn S.
Về con chung: Chị N và anh Đặng Văn S có 01 con chung tên Đặng Văn Hoàng L, sinh ngày 16/04/2014, hiện nay con đang ở với chị. Nếu ly hôn chị N có nguyện vọng được nuôi con chung cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Đặng Văn S: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh S thông qua người thân là ông Đặng Văn D (bố của anh S) và niêm yết theo quy định, nhưng anh S vắng mặt, do đó không có ý kiến. Chị N không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh S đang cư trú tại Nhật Bản. Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu ông Đặng Văn D cung cấp địa chỉ, tin tức của anh S cũng như yêu cầu ông D thông báo cho anh S biết để anh S có ý kiến về việc giải quyết việc ly hôn gửi Tòa án. Ngày 05/12/2023, ông Đặng Văn D đã gửi đơn trình bày có nội dung như sau: Ông là bố đẻ của anh Đặng Văn S, hiện nay anh S đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Chị N và anh S kết hôn với nhau và có một con chung là cháu Đặng Văn Hoàng L, sinh ngày 16/4/2014, hiện nay cháu L đang ở cùng chị N. Anh S đang đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản và thường xuyên liên lạc về với gia đình bằng điện thoại, nhưng không cung cấp được địa chỉ tại Nhật Bản vì lý do anh S không có địa chỉ chỗ ở cụ thể. Ông đã thông báo cho anh S biết việc chị N làm đơn khởi kiện ly hôn gửi Tòa án, anh S cũng đồng ý. Đến nay Tòa án vẫn không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của anh S về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của cháu Đặng Văn Hoàng L: Cháu là con bố S, mẹ N, nếu bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với mẹ để ổn định việc học tập.
Chị N đã có đơn xin xét xử vắng mặt gửi Tòa án, toàn bộ ý kiến giữ nguyên như trong đơn khởi kiện, bản tự khai đã gửi cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đường sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị Lê Thị N, cho chị N được ly hôn anh Đặng Văn S; giao con chung Đặng Văn Hoàng L, sinh ngày 16/4/2014 cho chị N nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi); dành quyền khởi kiện về thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con và chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng:
[1.1] Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung, nhưng Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Đặng Văn S có hộ khẩu thường trú tại xóm C, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, hiện đang làm việc và sinh sống tại Nhật Bản nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình.
[1.3] Thủ tục hòa giải: Bị đơn anh Đặng Văn S hiện vắng mặt tại nơi cư trú, đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh S vẫn cố tình vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.
[1.4] Sự vắng mặt của đương sự: Chị Lê Thị N đã nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, viết bản tự khai và cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Tuy nhiên, do điều kiện sinh sống, làm việc ở xa chị N không tham gia phiên tòa được và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Chị N phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án.
Anh Đặng Văn S hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh S thông qua người thân là ông Đặng Văn D gồm các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Đồng thời yêu cầu anh S trình bày ý kiến của mình về việc giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, Tòa án không nhận được ý kiến phản hồi của anh S. Tòa án đã tiến hành xác minh qua người thân của anh S là ông D và được cung cấp thông tin như sau: Ông D là bố đẻ của anh S. Hiện nay anh S đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Về con chung anh S, chị N có 01 con chung là cháu Đặng Văn Hoàng L, sinh ngày 16/4/2014, hiện cháu đang ở với chị N. Anh S đang đi xuất khẩu lao động tại Nhật bản và thường xuyên liên lạc về với gia đình bằng điện thoại, nhưng không cung cấp được địa chỉ tại Nhật Bản vì lý do anh S không có chỗ ở ổn định, không có địa chỉ cụ thể. Ông đã thông báo cho anh S biết việc chị N làm đơn khởi kiện ly hôn gửi Tòa án, anh S cũng đồng ý. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất vào ngày 22/12/2023, lần thứ hai vào ngày 08/01/2024 nhưng cả hai lần anh S đều vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Do đó, việc anh S vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo theo quy định tại Công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/22/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài không rõ địa chỉ. Căn cứ khoản 1 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
[2] Nội dung:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N kết hôn với anh Đặng Văn S trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, kết hôn với nhau vào ngày 20/02/2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa chị N và anh S là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị N và anh S chung sống với nhau hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do năm 2019, anh S đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, thời gian đầu chị và anh S thường xuyên giữ liên lạc, quan tâm đến nhau. Tuy nhiên, đến tháng 01/2023, anh S ít liên lạc, thăm hỏi, quan tâm đến chị và con, không gửi tiền về để nuôi con. Do đó, mỗi lần liên lạc vợ chồng thường xảy ra cãi vã nhau. Đã 05 tháng nay, chị và anh S không còn liên lạc với nhau. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh S đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Lê Thị N yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
[2.2] Con chung: Chị Lê Thị N và anh Đặng Văn S có 01 con chung tên Đặng Văn Hoàng L, sinh ngày 16/4/2014, hiện nay con chung đang với chị N. Ly hôn chị N có nguyện vọng được nuôi con chung cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, hiện nay, anh S đang làm ăn sinh sống ở Nhật Bản, không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Cần giao con chung cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N là người trực tiếp nuôi con chung chưa yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con, cần tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh S. Dành quyền yêu cầu cấp nuôi con chưa thành niên cho các bên khi có yêu cầu. Anh S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
[2.3] Tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Đặng Văn S cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[3] Án phí: Chị Lê Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 84, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273, các Điều 469 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lê Thị N.
[1] Quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N được ly hôn anh Đặng Văn S.
[2] Con chung:
[2.1] Giao con chung Đặng Văn Hoàng L, sinh ngày 16/4/2014, cho chị Lê Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Đặng Văn S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
[2.2] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị N chưa yêu cầu, anh Đặng Văn S chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh S. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[3] Án phí: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0001285 ngày 03/11/2023.
[4] Quyền kháng cáo:
[4.1] Chị Lê Thị N vắng mặt có quyền kháng cáo thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
[4.2] Anh Đặng Văn S đang cư trú ở nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 06/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình N - S
