Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HS-ST
Ngày: 04-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Anh Dũng - Cán bộ hưu tríBà Nguyễn Thị Kim Chi - Cán bộ hưu trí

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Sỹ Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 690/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 776/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn T; Giới tính: Nam

Tên gọi khác: Thiết Chỉ; Sinh năm 1988, tại: Bắc Giang.

Nơi cư trú: 136/60, tổ C, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 08/12

Họ tên bố: Phạm Văn C1, sinh năm 1964 (còn sống)

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1966 (còn sống)

Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ, con.

Tiền án; tiền sự: Không

Bị cáo đầu thú và tạm giữ từ ngày 22/5/2023, chuyển tạm giam theo lệnh số 890/LG của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (Có mặt).

* Bị hại: Ông Nguyễn Viết T1, sinh năm 1978

Địa chỉ: A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 10/4/2023, Phạm Văn T cùng với các đối tượng B và T2 (chưa rõ lai lịch) đến quán karaoke D tại khu phố B, phường L hát karaoke. Trong lúc hát thì B xảy ra mâu thuẫn, xô xát với anh Nguyễn Viết T1 (sinh năm 1978, ngụ tại A, khu phố A, phường L, thành phố B). Trong lúc xô xát, cãi vã, anh T1 có dùng tay đấm vào mặt của B làm chảy máu gây thương tích nhẹ và được T cùng mọi người can ngăn. T cùng B, T2 không hát karaoke nữa và tiếp tục đi ra ngoài ăn nhậu. Sau đó, T quay lại quán karaoke gặp và yêu cầu anh T1 xin lỗi nhưng anh T1 không đồng ý. T quay lại quán nhận và bàn bạc cùng với B và T2 chuẩn bị hung khí đi tìm đánh anh T1 để trả thù, tất cả đồng ý.

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 10/4/2023, T mang theo 01 dao tự chế dài khoảng 50cm, lưỡi dài 36cm, bản rộng 3,5cm, B và T2 mỗi người cầm theo một dao tự chế dài khoảng 60cm cùng đi đến nhà của anh Tự tại số A, khu phố A, phường L để tìm đánh anh T1. Ngoài ra, T2 và B còn mang theo 01 khẩu súng công cụ hỗ trợ đã lắp sẵn đạn. Khi đến nơi, cả ba trông thấy anh T1 đang đứng nói chuyện với các anh Nguyễn Đăng S, Trần Thanh P, Phạm Ngọc K, T3, S và L (chưa rõ lai lịch) tại khu vực đoạn đường nội bộ phía trước nhà anh T1. T xông đến dùng chân đạp ngã anh T1 và dùng dao chém vào tay anh phải T1 gây thương tích. T2 và B cầm dao xông vào cùng T đánh anh T1. Khi anh T1 bỏ chạy thì T, T2 và B cầm dao, súng dí đuổi anh T1 trên đoạn đường nội bộ khu phố A, phường L. Trong quá trình đuổi đánh anh T1, T cùng đồng bọn tay cầm dao, la hét, chửi bới, B và T2 dùng súng công cụ hỗ trợ bắn liên tục 4-5 phát súng về hướng của anh T1 làm cho những người có mặt hoảng sợ bỏ chạy tán loạn gây mất trật tự tại khu phố. Vì T và đồng bọn đuổi anh T1 không kịp nên quay lại lên xe bỏ trốn.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội Phạm Văn T, B và T2 đã bỏ trốn. Ngày 22/5/2023, T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đầu thú khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Ngày 20/5/2023, anh Nguyễn Viết T1 làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

*Vật chứng vụ án:

  • 01 USB ghi nhận nội dung vụ án được lưu giữ tại hồ sơ.
  • 01 con dao tự chế dài 50cm, cán bằng gỗ dài 14cm, lưỡi dao thép màu trắng dài 36cm là hung khí Phạm Văn T sử dụng gây án (Bút lục số 49).
  • 03 vỏ đạn và 01 viên đạn đồng loại 09mm ký hiệu OZK và 9mm P.A (Bút lục số 50).

*Tại kết luận giám định thương tích số 0482/KLTTCY-TTPYĐN ngày 24/5/2023 của Giám định viên thuộc Trung tâm P2 kết luận về thương tích của anh Nguyễn Viết T1 như sau:

1. Các kết quả chính:

  • Sẹo mặt sau 1/3 dưới cẳng tay phải.
  • Đứt cơ duỗi chung các ngón, gân dạng ngón cái tay phải đã điều trị hiện để lại hạn chế vận động cổ tay phải mực độ ít.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trưởng Bộ Y Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Viết T1 tại thời điểm giám định là 09% (Chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

3. Kết luận khác:

  • Vật gây thương tích: Vật sắc.

*Tại kết luận giám định số 5496/KL-KTHS ngày 13/10/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận 03 vỏ đạn và 01 viên đạn đồng loại 09mm ký hiệu OZK và 9mm P.A là công cụ hỗ trợ, thuộc loại đạn cao su cỡ (9x22)mm, không phải là vũ khí quân dụng, không phải là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, anh Nguyễn Viết T1 yêu cầu bồi thường chi phí điều trị và các chi phí khác với số tiền 151.300.000đ (Một trăm năm mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng). Hiện Phạm Văn T chưa bồi thường cho bị hại.

Quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Viết T1 khai Nguyễn Văn T4 (T) cùng 02 thanh niên (chưa rõ lai lịch) dùng dao đuổi chém anh T1 nhưng không trúng, Phan Nhật T5 (T5 trọc) cầm súng đuổi bắn 6-7 phát trúng vai anh T1 làm xây xát nhẹ. Bị can Phạm Văn T khai chỉ có T cùng với T2 và B (chưa rõ lai lịch) tham gia đánh anh T1, T5 và T4 có mặt nhưng không tham gia đánh bị hại, T không rủ rê T5 và T4 đi đánh anh T1. Phan Nhật T5 khai khi thấy T và 02 thanh niên đi ngang qua thì hỏi thăm có chuyện gì nhưng T không nói. T5 và T4 tự ý chạy theo T và chứng kiến sự việc T đánh bị hại như trên, T5 không tham gia cùng T đánh bị hại. Các nhân chứng anh Nguyễn Đăng S, Trần Thanh P khai do trời tối nên không quan sát rõ mặt và không nhận dạng được các đối tượng gây án. Nhân chứng Phạm Ngọc K khai T4 có tham gia cùng T đánh bị hại. Cơ quan điều tra đã triệu tập T4 lấy lời khai làm rõ nội dung vụ án, tuy nhiên T4 hiện đang bỏ đi khỏi địa phương nên chưa làm việc được.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã nhận tội theo như nội dung cáo trạng mô tả và không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo.

Theo bản cáo trạng số 679/CT-VKSBH ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; và về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 2 Điều 318; khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Văn T mức án từ 02 (hai) đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” và mức án từ 06 (sáu) tháng đến 10 (mười) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tuyên buộc Phạm Văn T phải bồi thường chi phí điều trị và các chi phí khác cho anh Nguyễn Viết T1 theo quy định pháp luật.
  • Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao tự chế dài 50cm, cán bằng gỗ dài 14cm, lưỡi dao thép màu trắng dài 36cm; 03 vỏ đạn và 01 viên đạn đồng loại 09mm ký hiệu OZK và 9mm P.A là hung khí Phạm Văn T cùng đồng bọn sử dụng gây án.

Bị cáo T nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi của mình là sai và rất ân hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng khác và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận: Khoảng 22 giờ ngày 10/4/2023, Phạm Văn T cùng với các đối tượng B và T2 (chưa rõ lai lịch) đi hát karoke tại quán K1-R, khu phố B, phường L hát karaoke. Trong lúc hát karaoke thì B xảy ra xô xát, đánh nhau với anh Nguyễn Viết T1. Sau đó, Phạm Văn T bàn bạc cùng với B và T2 chuẩn bị dao tự chế đi tìm đánh anh T1 để trả thù.

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 10/4/2023, T, B và T2 mỗi người cầm theo một dao tự chế dài khoảng 50cm, cán dài 14cm, lưỡi dài 36cm đi đến nhà của anh Tự tại số A, khu phố A, phường L để chém anh T1 (T2 và B còn cất giấu và mang theo 01 súng công cụ hỗ trợ đã lắp sẵn đạn). Khi đến nơi, T và đồng bọn trông thấy anh T1 đang đứng nói chuyện với bạn là các anh Nguyễn Đăng S, Trần Thanh P, Phạm Ngọc K, T3, S và L (chưa rõ lai lịch) tại khu vực đoạn đường nội bộ phía trước nhà anh T1. T xông vào dùng chân đạp ngã anh T1 và dùng dao chém vào tay anh phải T1 gây thương tích. T2 và B cũng cầm dao xông vào cùng T đánh anh T1 làm anh T1 bỏ chạy. T và đồng bọn cầm dao, súng đuổi theo để đánh anh T1 trên đoạn đường nội bộ khu phố A, phường L. Trong quá trình đuổi đánh anh T1, T cùng đồng bọn tay cầm dao, miệng la hét, chửi bới, T2 và B bắn liên tục nhiều phát súng về hướng của anh T1 làm cho những người có mặt hoảng sợ bỏ chạy tán loạn gây mất trật tự khu phố.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phạm Văn T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; và về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như nội dung bản cáo trạng số 679/CT-VKSBH ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành, có trình độ nhận thức và am hiểu pháp luật, đời sống xã hội nhất định nhưng vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống bị cáo lại lựa chọn phương thức dùng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn nên đã vi phạm pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng: không có;

Về tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đã bồi thường, khắc phục một phần thiệt hại; Nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự), Tự nguyện ra đầu thú; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao tự chế dài 50cm, cán bằng gỗ dài 14cm, lưỡi dao thép màu trắng dài 36cm; 03 vỏ đạn và 01 viên đạn đồng loại 09mm ký hiệu OZK và 9mm P.A là hung khí bị cáo Phạm Văn T cùng đồng bọn sử dụng gây án là phù hợp.

[5] Về các vấn đề khác:

Đối với tên B, T2 (chưa rõ lai lịch) cùng các đối tượng T5 và T4 có hành vi “Gây rối trật tự công cộng” và cùng với Phạm Văn T gây thương tích cho Nguyễn Viết T1. Cơ quan điều tra tách vụ án ra để tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

Đối với việc bị hại khai Phan Nhật T5 cùng Nguyễn Văn T4 có tham gia cùng Phạm Văn T gây thương tích cho bị hại. Bị cáo Phạm Văn T khai không rủ rê T5 và T4 đi đánh anh T1; T5 và T4 có mặt nhưng không tham gia đánh bị hại. Quá trình làm việc, T5 khai có mặt tại hiện trường nhưng không thừa nhận có hành vi tham gia cùng T đánh anh T1. Các nhân chứng trực tiếp không quan sát rõ mặt các đối tượng gây án và không nhận dạng được, nhân chứng Phạm Ngọc K khai thấy T4 tham gia cùng T đánh bị hại, tuy nhiên qua xác minh T4 hiện đang bỏ đi khỏi địa phương nên chưa làm việc được. Kết quả điều tra chưa đủ cơ sở chứng minh T5 và T4 là đồng phạm với T trong vụ án. Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại là ông Nguyễn Viết T1 yêu cầu bị cáo Phạm Văn T bồi thường chi phí điều trị và các khoản thiệt hại khác với tổng số tiền là 151.300.000 đồng (một trăm năm mươi mốt triệu, ba trăm nghìn đồng). Tại phiên tòa, bị hại giảm số tiền bồi thường cho bị cáo, chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng); bị cáo đồng ý. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại; buộc bị cáo Phạm Văn T phải bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Viết T1 số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng).

[6] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 318; khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T mức án 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 06 (sáu) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 5 năm 2023

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng các Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585; 585 và 590 Bộ luật Dân sự;

Buộc bị cáo Phạm Văn T phải bồi thường cho ông Nguyễn Viết T1 số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) được trừ vào số tiền bị cáo đã nộp là 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số 0001531, ngày 03/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa. Bị cáo còn phải bồi thường số tiền còn lại cho ông Nguyễn Viết T1 là 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015

Quyết định này được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao tự chế dài 50cm, cán bằng gỗ dài 14cm, lưỡi dao thép màu trắng dài 36cm; 03 vỏ đạn và 01 viên đạn đồng loại 09mm ký hiệu OZK và 9mm P.A là hung khí bị cáo Phạm Văn T cùng đồng bọn sử dụng gây án.

(Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/12/2023).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa (2);
  • - Công an TP. Biên Hòa (2);
  • - Thi hành án hình sự (5);
  • - Bị cáo, đương sự (5);
  • - Lưu VP - Hồ sơ vụ án (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trần Nhàn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hoàng P1

Nguyễn Trần Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự: gây rối trật tự công cộng và cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 06/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Gây rối trật tự công cộng và Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Pham Van T phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger