Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TRẢNG BÀNG

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HS-ST

Ngày: 10-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hùng

Các Hội thẩm nhân dân.

  • 1. Ông Cao Hoài Hiêm;
  • 2. Ông Nguyễn Xuân Tươi.

Thư ký phiên tòa: ông Trần Thế Sự - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tham gia phiên tòa: ông Võ Trường Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2023/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Trương Văn Ú

sinh năm 1982, tại tỉnh Long An. Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T (chết) và bà Phạm Thị T1; vợ: Lê Thị Bé L (đã ly hôn); con có 01 người sinh năm 2006; tiền án: tại Bản án số 32/2019/HS-ST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt Trương Văn Ú 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: tại Quyết định số 257/QĐ-TA ngày 24/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Văn Ú trong thời hạn 15 tháng; về nhân thân: tại Bản án số 113/1997/HSST ngày 20/10/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt Trương Văn Ú 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản; tại Bản án số 34/2010/HSST ngày 16/7/2010 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt Trương Văn Ú 05 năm tù về

tội “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án số 116/2014/HSST ngày 29/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt Trương Văn Ú 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ ngày 26/10/2023, tạm giam ngày 01/11/2023 cho đến nay. (có mặt)

Bị hại: bà Trần Thị X, sinh năm 1972. Địa chỉ: khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.(có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1986. Địa chỉ: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 25/10/2023, Trương Văn Ú điều khiển xe mô tô biển số 70M2-6163 đến tiệm tạp hóa “Hải” của bà Nguyễn Thị X1 thuộc khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh để mua thuốc lá. Khi đến nơi, Ú để xe ở trước cửa tiệm rồi đi vào bên trong thì nhìn thấy bà X1 đang đốt nhang ở phía trong nhà và không có người trông coi tiệm nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. Lúc này, Ú tìm kiếm xung quanh thì phát hiện bên trong thùng giấy có tiền Việt Nam 640.000 đồng và 01 hộp nhựa màu trắng bên trong có 95 thẻ nạp tiền điện thoại của nhiều mạng điện thoại mệnh giá khác nhau, tổng trị giá 5.800.000 đồng; Ú lấy trộm tiền cất giấu vào túi quần đang mặc trên người và lấy hộp nhựa màu trắng chứa thẻ nạp tiền điện thoại cất giấu vào trong cốp xe mô tô rồi điều khiển xe đến cửa hàng điện thoại “Anh T3” bán 95 thẻ nạp tiền điện thoại cho anh Nguyễn Văn T2 được số tiền 4.640.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết. Qua xác minh, ngày 26/10/2023 Cơ quan điều tra mời Ú làm việc và Ú đã thừa nhận toàn bộ sự việc.

Tại Kết luận định giá tài sản số 73/KL-HĐĐGTS ngày 30/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, kết luận: 95 thẻ nạp tiền điện thoại các loại có tổng trị giá là 5.800.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 91/CT-VKSTrB ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Trương Văn Ú về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Ú về tội danh trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trương Văn Ú từ 03 năm đến 04 năm tù;

Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên đề

nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

Về trách nhiệm dân sự: trong giai đoạn điều tra, bà Trần Thị X đã nhận lại tài sản là thẻ cào nạp tiền điện thoại và yêu cầu bị cáo Ú bồi thường số tiền còn lại là 520.000 đồng nhưng trong quá trình chuẩn bị xét xử bà X không yêu cầu bị cáo Ú phải bồi thường số tiền còn lại nên ghi nhận; anh Nguyễn Văn T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường lại số tiền đã mua thẻ cào điện thoại nên ghi nhận.

Về vật chứng: ghi nhận Cơ quan điều tra đã xử lý xong.

Về bào chữa: bị cáo Ú thống nhất với Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến bào chữa cho mình.

Về nói lời nói sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: các bị hại Trần Thị X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai của những người này đã có đầy đủ trong hồ sơ, việc xét xử vắng mặt các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt họ. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo Ú đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống như Cáo trạng của Việm kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản vụ việc, vật chứng, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã chứng minh được như sau: Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 25/10/2023, tại khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, Trương Văn Ú đã tái phạm, chưa được

xóa án tích, mà lại trộm cắp tài sản của bà Trần Thị X số tiền Việt Nam 640.000 đồng và 95 thẻ nạp tiền điện thoại các loại trị giá 5.800.000 đồng. Tổng trị giá tài sản Ú chiếm đoạt là 6.440.000 đồng.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trương Văn Ú phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo.
  • Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tính chất của hành vi phạm tội và hình phạt:

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện.

Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về tội "Trộm cắp tài sản", chưa được xóa án tích. Lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau:

  • - Về trách nhiệm dân sự: trong giai đoạn điều tra, bị hại Trần Thị X đã nhận lại tài sản là các thẻ cào nạp tiền điện thoại và 470.000 đồng, bà X yêu cầu bị cáo Ú bồi thường số tiền còn lại là 520.000 đồng nhưng trong giai đoạn xét xử bà X không tiếp tục yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên ghi nhận; ghi nhận anh Nguyễn Văn T2 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã mua thẻ cào điện thoại từ bị cáo.
  • - Về vật chứng: ghi nhận Cơ quan điều tra đã xử lý xong.

[5] Bị cáo Ú phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại

khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đối với anh Nguyễn Văn T2 mua 95 thẻ nạp tiền điện thoại các loại không biết do Trương Văn Ú phạm tội mà có; anh Đoàn Công S là chủ sở hữu xe mô tô biển số 70M2-6163 không biết việc Trương Văn Ú mượn xe làm phương tiện trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Văn Ú 03 (Ba) năm tù về tội "Trộm cắp tài sản".

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26/10/2023.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự:

  • - Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị hại Trần Thị X đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác; ghi nhận anh Nguyễn Văn T2 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền mà bị cáo đã bán thẻ cào nạp tiền điện thoại cho anh T2.
  • - Về vật chứng: ghi nhận Cơ quan điều tra đã xử lý xong.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Ú phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về hình sự sơ thẩm về tội "trộm cắp tài sản"

  • Số bản án: 06/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Trộm cắp tài sản"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn Út trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger