Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:06/2024/KDTM-ST

Ngày 05-7-2024

V/v tranh chấp “Hợp đồng

tín dụng; Hợp đồng thế chấp”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sắc Ly.

Các Hội thẩm nhân nhân dân:

Ông Lê Văn Kiệt.

Ông Nguyễn Tất Ái

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho: Bà Nguyễn Thị Đoan Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 01/2024/TLST-KDTM ngày 02 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng; Hợp đồng thế chấp”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-KDTM ngày 31 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q.

Địa chỉ: Số B L, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Thanh H – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Viết P – Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm Q.

Đại diện theo ủy quyền lại: Trần Hoàng V, sinh năm 1982 (có mặt). Trưởng bộ phận – Trung tâm xử lý nợ, Võ Hoàng N, Chuyên viên xử lý nợ - Trung tâm xử lý nợ.

Địa chỉ: A - A N, phường G, tp M, Tiền Giang.

Bị đơn: Công ty TNHH S.

Địa chỉ: Số H P, ấp D, xã T, TP M, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện theo pháp luật: Nguyễn Quyết T, chức danh: Giám đốc (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1983 (có mặt).

Địa chỉ: Số A ấp A, xã Đ, TP M, tỉnh Tiền Giang.

Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1953 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số A ấp A, xã Đ, TP M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q có đại diện theo ủy quyền Trần Hoàng V trình bày:

Khách hàng Công ty TNHH S (gọi tắt khách hàng) cùng với Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh T4 đã ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức cấp tín dụng số: 022/22/HĐHM-9231 ngày 01/6/2022 cùng các đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 04/KUNN/022/22/HĐHM-9231 ngày 16/5/2023, cụ thể như sau:

  • Số tiền vay: 1.100.000.000 đồng.
  • Mục đích vay: Thanh toán tiền mua nguyên vật liệu;
  • Ngày nhận nợ: 16/5/2023.
  • Thời hạn vay: 06 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân.
  • Lãi suất kỳ đầu tiên: Trong vòng 03 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiền là 12%/năm; Lãi suất kỳ tiếp theo: Lãi suất áp dụng đối với các khoản vay của Khách hàng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức LSV = Lãi suất tham chiếu + 2%/năm.
  • Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn, áp dụng với nợ gốc quá hạn.
  • Lãi chậm trả: 10%/năm tính trên số dư chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả;
  • Tỷ lệ phí phạt trả gốc trước hạn: Theo quy định N1 từng thời kỳ.

N1 đã giải ngân Công ty TNHH S đã nhận nợ toàn bộ số tiền nêu trên theo đề nghị giải ngân kiêm ước nhận nợ số: 04/KUNN/022/22/HĐHM-9231 ngày 16/5/2023.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay: Để đảm bảo cho khoản vay trên, khách hàng đã thế chấp tài sản bảo đảm như sau:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1045, tờ bản đồ 28, địa chỉ ấp A, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, diện tích 105,2m2. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành DĐ 516840, số vào sổ cấp giấy CS19387 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 09/5/2022 do Nguyễn Quốc T1 đứng tên.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 022/22/HĐTC-9231 ngày 01/6/2022; Số công chứng 3967; Quyển số 11/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/6/2022; Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố M, tỉnh Tiền Giang ngày 01/6/2022; Và biên bản thỏa thuận ngày 01/6/2022; Thỏa thuận tài sản gắn liền với đất ngày 01/6/2022.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty S đã thanh toán cho N1 số tiền tổng cộng là 59.741.575 đồng là tiền lãi, tiền gốc 0 đồng. Và không tiếp tục thực hiện trả nợ đúng hạn. N1 đã nhiều lần gửi thông báo, làm việc trực tiếp yêu cầu BTL thực hiện trả nợ nhưng không thực hiện theo yêu cầu.

Nay khởi kiện:

  • Yêu cầu Tòa án buộc Cty TNHH Sản xuất Thương mại B phải trả cho Ngân hàng TMCP Q với số tiền nợ tính đến ngày 22/11/2023 là 1.112.232.829 đồng (bao gồm 1.100.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi là 12.232.829 đồng.

Buộc Công ty TNHH S thanh toán cho Ngân hàng các khoản lãi phát sinh theo thỏa thuận kể từ ngày 23/11/2023 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo hợp đồng và khế ước nhận nợ đã ký.

Nếu Công ty TNHH S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa tuyên Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm sao đây của khoản vay để thu hồi nợ: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1045, tờ bản đồ 28, địa chỉ ấp A, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, diện tích 105,2m2. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành DĐ 516840, số vào sổ cấp giấy CS19387 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 09/5/2022 do Nguyễn Quốc T1 đứng tên.

Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty TNHH S vẫn phải tiếp tục có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q.

Buộc Công ty TNHH S phải chịu mọi chi phí tố tụng.

* Bị đơn Công ty TNHH S: Không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Quốc T1 trình bày:

Đối với yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q yêu cầu Công ty TNHH S phải trả cho Ngân hàng TMCP Q với số tiền nợ tính đến ngày 22/11/2023 là 1.112.232.829 đồng bao gồm vốn 1.100.000.000 đồng và lãi, thì anh không có ý kiến.

Riêng đối với tài sản quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 1045, tờ bản đồ 28, địa chỉ ấp A, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, diện tích 105,2m2. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành DĐ 516840, số vào sổ cấp giấy CS19387 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 09/5/2022 do Nguyễn Quốc T1 đứng tên, thì anh cho Công ty mượn để thế chấp khoản vay thì Công ty có trách nhiệm trả lại anh khi hợp đồng vay hết hạn. Anh không đồng ý để ngân hàng xử lý tài sản thế chấp khi Công ty không thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Ngân hàng có thể định giá kê biên tài sản của Công ty TNHH S để thu hồi nợ.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T2 có văn bản trình bày: Không có ý kiến gì với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Thống nhất với ý kiến của Lê Quốc T3.

* Tại phiên tòa:

Ngân hàng TMCP Q yêu cầu Công ty S phải trả số tiền vốn và lãi tính đến ngày xét xử là 1.239.884.174 đồng. Đối với các yêu cầu còn lại vẫn giữ nguyên lời trình bày theo đơn khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử chuẩn bị nghị án đều đúng theo trình tự do Bộ luật tố tụng quy định. Đối với bị đơn chưa chấp hành đúng triệu tập của Tòa án theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát cho rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi thẩm tra xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe lời trình bày tranh luận của đương sự, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu Công ty S trả số tiền vay và lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, nếu không thực hiện được thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp đã ký kết. Bị đơn có trụ sở tại thành phố M. Xác định đây là tranh chấp “hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 39, khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn Công ty S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là có căn cứ đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Ngân hàng khởi kiện căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số: 022/22/HĐHM-9231 ngày 01/6/2022 cùng đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 04/KUNN/022/22/HĐHM-9231 ngày 16/5/2023, được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh T4 với Công ty TNHH S. Thể hiện nội dung, Công ty S có vay của Ngân hàng TMCP Q với số tiền 1.100.000.000 đồng, Số tiền vay: 1.100.000.000 đồng. Ngày nhận nợ: 16/5/2023. Thời hạn vay: 06 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân. Lãi suất kỳ đầu tiên: Trong vòng 03 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiền là 12%/năm; Lãi suất kỳ tiếp theo: Lãi suất áp dụng đối với các khoản vay của Khách hàng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức LSV = Lãi suất tham chiếu + 2%/năm. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn, áp dụng với nợ gốc quá hạn. Lãi chậm trả: 10%/năm tính trên số dư chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; Tỷ lệ phí phạt trả gốc trước hạn: Theo quy định N1 từng thời kỳ.

Ngân hàng cho rằng để đảm bảo khoản vay trên thì anh Nguyễn Quốc T1, và Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh T4 có ký kết đảm bảo bằng tài sản thế chấp do anh T1 đứng tên là quyền sử dụng đất số: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1045, tờ bản đồ 28, địa chỉ ấp A, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, diện tích 105,2m2. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành DĐ 516840, số vào sổ cấp giấy CS19387 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 09/5/2022. Và có cung cấp cho Tòa án hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 022/22/HĐTC-9231 ngày 01/6/2022; Số công chứng 3967; Quyển số 11/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/6/2022;

[2.1] Do phía Công ty TNHH S đã vi phạm nghĩa vụ nên nay Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ.

[2.2]Chứng cứ chứng minh:

Tòa án thụ lý vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng là tống đạt các văn bản tố tụng cho Công ty TNHH S, trong các văn bản của Tòa án nói rõ yêu cầu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q. Nhưng Công ty TNHH S không có ý kiến trình bày, cũng như ý kiến phản đối nào đối với chữ ký của mình tại các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và không phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q. Căn cứ theo khoản 1 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày đương sự được thừa nhận làm căn cứ giải quyết.

[2.3] Từ những nhận định trên, công nhận tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng và các văn bản do Công ty TNHH S và Ngân hàng TMCP Q ký kết, cụ thể: Hợp đồng tín dụng số 022/22/HĐHM-9231 ngày 01/6/2022 cùng các đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 04/KUNN/022/22/HĐHM-9231 ngày 16/5/2023. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q vềyêu cầu Công ty TNHH S trả số tiền nợ vay với số tiền gốc là 1.100.000.000 đồng.

[2.4] Đối với yêu cầu trả lãi của nguyên đơn: Do Công ty TNHH S đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền. Nay Ngân hàng căn cứ vào hợp đồng đã ký kết, yêu cầu Công ty TNHH S trả lại số tiền lãi tính đến ngày xét xử gồm: Lãi trong hạn là 8.261.506 đồng và lãi quá hạn 131.095.890 đồng, lãi chậm trả 526.778 đồng, với tổng số tiền lãi là 139.884.174 đồng. Xét yêu cầu trên là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng, phù hợp với điều khoản được qui định tại hợp đồng mà 02 bên ký kết, nên yêu cầu tính lãi của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.5] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Căn cứ theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 022/22/HĐTC-9231 ngày 01/6/2022; Số công chứng 3967; Quyển số 11/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/6/2022; Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố M, tỉnh Tiền Giang ngày 01/6/2022; Và biên bản thỏa thuận ngày 01/6/2022; Thỏa thuận tài sản gắn liền với đất ngày 01/6/2022. Xét thấy, các văn bản trên được ký kết được đăng ký và công chứng đúng theo quy định của pháp luật nên là hợp đồng có hiệu lực pháp luật. Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, thì hiện trên tài sản thế chấp có một ngôi nhà do anh Nguyễn Quốc T1 và bà Nguyễn Thị T2 đang sử dụng. Anh T1 là người ký đảm bảo theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 022/22/HĐTC-9231 ngày 01/6/2022. Anh T1 cho rằng không đồng ý phát mãi tài sản thế chấp trong trường hợp Công ty TNHH S không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ mà cho rằng trường hợp trên cần xét xử lý tài sản của Công ty TNHH S, tại phiên tòa anh T1 nại ra rằng việc thế chấp tài sản chỉ có hiệu lực trong hạn 12 tháng nên không đồng ý cho xử lý tài sản thế chấp. Xét thấy, anh T1 thừa nhận anh chính là người ký bảo đảm cho Công ty TNHH S vay vốn với ngân hàng theo hợp thế chấp quyền sử dụng đất số: 022/22/HĐTC-9231 ngày 01/6/2022 đối với khoản vay mà hiện Ngân hàng TMCP Q đang khởi kiện. Như đã nhận định ở trên, do hợp đồng thế chấp và các văn bản có hiệu lực pháp luật, căn cứ vào nội dung hợp đồng xét lời trình bày của anh T1 không có cơ sở cho Hội đồng xét xử xem xét. Yêu cầu của Ngân hàng đề nghị có quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1045, tờ bản đồ 28, địa chỉ ấp A, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, diện tích 105,2m2. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành DĐ 516840, số vào sổ cấp giấy CS19387 do Sở T5 cấp ngày 09/5/2022 cho anh Nguyễn Quốc T1, nếu Công ty TNHH S không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền, là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng nguyên đơn tạm ứng, phía nguyên đơn cho rằng ai thua kiện sẽ phải chịu toàn bộ chị phí theo quy định. Căn cứ Điều 157, Điều 156 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Công ty TNHH S phải chịu chi phí tố tụng vừa nêu trên.

[4] Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho là có cơ sở và phù với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên Công ty TNHH S phải chịu án phí kinh doanh thương mại theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 91 Luật Các tổ chức Tín dụng;

Căn cứ vào các Điều 117, 118, 119 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 189, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q.

Buộc Công ty TNHH S phải trả cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền vốn 1.100.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 05/7/2024 là 139.884.174 đồng, tổng cộng 1.239.884.174 đồng (Một tỷ hai trăm ba mươi chín triệu tám trăm tám mươi bốn nghìn một trăm bảy mươi bốn đồng).

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty TNHH S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong.

3. Trường hợp Công ty TNHH S không thanh toán hoặc thanh toán không đúng số nợ còn lại theo Hợp đồng tín dụng ký kết thì tài sản thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1045, tờ bản đồ 28, địa chỉ ấp A, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, diện tích 105,2m2. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành DĐ 516840, số vào sổ cấp giấy CS19387 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 09/5/2022 cho Nguyễn Quốc T1, sẽ được xử lý theo qui định pháp luật.

4. Nếu giá trị tài sản thế chấp phát mãi không đủ thanh toán nợ thì Công ty TNHH S có nghĩa vụ thanh toán đến khi dứt nợ.

5. Về chi phí tố tụng: Công ty TNHH S có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1 tiền 3.000.000 đồng chi phí tố tụng.

6. Về án phí: Công ty TNHH S phải chịu 49.196.525 đồng án phí kinh doanh thương mại .

H1 lại Ngân hàng TMCP Q1 tiền 22.683.000 đồng tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo biên lai thu số 0005569 ngày 02/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho.

7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q và anh Nguyễn Quốc T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty TNHH S, bà Nguyễn Thị T2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Mỹ Tho;
  • - Chi cục THADS TP Mỹ Tho;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án. (08B)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Sắc Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/KDTM-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về hợp đồng tín dụng; hợp đồng thế chấp

  • Số bản án: 06/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng tín dụng; Hợp đồng thế chấp
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp tài sản giữa Ngân hàng TMCP Q và Công ty TNHH S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger