TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 06/2024/KDTM-ST Ngày: 05-7-2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hòe.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;
Ông Lưu Văn Đê.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Én - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2024/TLST-KDTM ngày 07 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-KDTM ngày 07 tháng 5 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 54/2024/Q ĐST-KDTM ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1). Địa chỉ: H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền:
- + Ông Ma Văn M, sinh năm 1988- Cán bộ Xử lý nợ V1.
- + Ông Trần Văn T, sinh năm 1993- Cán bộ Xử lý nợ V1.
Cùng địa chỉ: Tầng G, tòa nhà V, số G D, Cầu G, Hà Nội
- Bị đơn: Công ty Cổ phần A1. Địa chỉ: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
Người đại diện theo pháp luật: Anh Nguyễn Anh H - Chức vụ: Giám đốc Công ty Cổ phần A1.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Anh H, sinh năm 1986. Địa chỉ: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định
(Có mặt ông T; vắng mặt ông M, anh H).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2023 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng ý kiến trình bày:
Năm 2021, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (V1) đã ký hợp đồng cho Công ty Cổ phần A1 (Công ty A1) vay tín dụng, cụ thể như sau:
Ngày 20/9/2021, V1 đã ký Hợp đồng cho vay hạn mức số NDH/21073 với Công ty A1, hạn mức cho vay là 4,200,000,000 đồng (bốn tỷ, hai trăm triệu đồng), giải ngân làm nhiều lần, mỗi lần giải ngân kèm theo khế ước nhận nợ, cụ thể:
- Khế ước nhận nợ số NDH/21073-3 ngày 24/03/2022: Số tiền cho vay: 520,000,000 (năm trăm hai mươi triệu đồng); thời hạn cho vay: 6 tháng (tính từ ngày 24/03/2022 đến ngày 24/09/2022); mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động lắp đặt kết cấu thép; lãi suất cho vay tại thời điềm giải ngân là: 10,5%/năm (cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 01 tháng lãi suất này sẽ được điều chỉnh đình kỳ 01 tháng/lần), ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 24/04/2022.
- Khế ước nhận nợ số NDH/21073-4 ngày 29/04/2022: Số tiền cho vay: 500,000,000 (năm trăm triệu đồng); thời hạn cho vay: 6 tháng (tính từ ngày 29/04/2022 đến ngày 24/10/2022); mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động lắp đặt kết cấu thép; lãi suất cho vay tại thời điềm giải ngân là: 10,5%/năm (cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 01 tháng lãi suất này sẽ được điều chỉnh đình kỳ 01 tháng/lần), ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 29/05/2022.
Cả hai Khế ước nhận nợ này đều thỏa thuận mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất bán vốn của Bên Ngân hàng do Hội sở chính của Bên Ngân hàng áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3,7%/năm.
Để đảm bảo cho các khoản vay trên, Công ty A1 đã thế chấp cho V1 các tài sản sau:
- 01 xe ô tô con nhãn hiệu RENAULT LATITUDE, biển kiểm soát (BKS) 18A-070.82, giấy chứng nhận đăng ký (GCNĐK) số 009558 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 06/09/2016 đứng tên: CTY CỔ PHẦN A.J.C. Xác lập thế chấp tại V1 theo Hợp đồng thế chấp số NDH/20070/HDTC ngày 19/08/2020.
- 01 xe ôtô nhãn hiệu FORD RANGER, BKS 18C-121.61 GCN ĐK số 18005215 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 21/09/2021 đứng tên: CTY CỔ PHẦN A.J.C. Xác lập thế chấp tại V1 theo Hợp đồng thế chấp số NDH/21079 ngày 18/10/2021.
Ngoài ra, cũng để đảm bảo thực hiện nghiã vụ trả nợ, người đại diện theo pháp luật của Công ty A1 đã ký với V1 Hợp đồng bảo lãnh số NDH/21073/HDBL.01. Nội dung: Bên bảo lãnh ông Nguyễn A Hợp đồng ý bằng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho bên được bảo lãnh là Công ty A1 trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng cho vay hạn mức số NDH/21073 ký giữa Công ty A1 và V1 bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung, khế ước nhận nợ và văn bản liên quan.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty A1 đã trả cho V1 số tiền 49,041,174 đồng (trong đó: Trả gốc 4,169,289 đồng; trả lãi 44,871,885 đồng). Công ty A1 đã vi phạm nghĩa vụ trả kể từ ngày 24/9/2022 đối với Khế ước nhận nợ lần 3 số NDH/21073-3 ngày 24/03/2022 và vi phạm nghĩa vụ trả nợ kể từ ngày 10/10/2022 đối với Khế ước nhận nợ lần 4 số NDH/21073-4 ngày 29/04/2022. Tính đến ngày 05/7/2024, tổng số tiền Công ty A1 còn nợ V1 là 1,365,362,135đ, trong đó: Nợ gốc: 1,015,830,711đ; nợ lãi: 318,165,177đ; lãi chậm trả: 31,366,247đ. Ngân hàng nhiều lần làm việc và yêu cầu Công ty A1 thực hiện nghĩa vụ theo đúng cam kết tại các Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký với V1 nhưng Công ty A1 không thanh toán. Do đó, V1 yêu cầu Tòa án:
- Buộc Công ty A.J.C trả nợ cho V1 toàn bộ số tiền gốc, lãi tính đến ngày 05/7/2024 là 1,365,362,135 đ, trong đó: Nợ gốc: 1,015,830,711đ; nợ lãi: 318,165,177đ; lãi chậm trả: 31,366,247đ. Cụ thể:
- + Đối với Khế ước nhận nợ lần 3 số NDH/21073-3 ngày 24/03/2022: Tổng nợ: 694,117,806đ (gồm: Nợ gốc: 515,830,711đ; nợ lãi: 162,350,071đ; lãi chậm trả: 15,937,024đ).
- + Đối với Khế ước nhận nợ lần 4 số NDH/21073-4 ngày 29/04/2022: Tổng nợ: 671,244,329đ (gồm: Nợ gốc: 500,000,000đ; nợ lãi: 155,815,106đ; lãi chậm trả: 15,429,223đ).
Kể từ ngày 06/7/2024, Công ty A1 còn phải trả toàn bộ lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ cho đến khi Công ty A1 thanh toán hết nợ cho V1.
- Trường hợp khi bản án có hiệu lực, Công ty A1 không trả hoặc trả không đủ nợ thì V1 có quyền thu giữ, tự xử lý hoặc yêu cầu cơ quan Thi hành án xác minh, kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của Công ty A1 để thu hồi khoản nợ cho V1. Tài sản bảo đảm gồm: 01 xe ô tô con nhãn hiệu RENAULT LATITUDE, BKS 18A-070.82, GCNĐK số 009558 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 06/09/2016 đứng tên: CTY CỔ PHẦN A.J.C. Xác lập thế chấp tại V1 theo Hợp đồng thế chấp số NDH/20070/HDTC ngày 19/08/2020.
- Anh Nguyễn Anh H có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ của Công ty A.J.C cho V1 theo Hợp đồng bảo lãnh số NDH/21073/HDBL.01 ngày 20/9/2021. Trường hợp công ty A1, anh Nguyễn Anh H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên và xử lý các tài sản thuộc quyền sử dụng, sở hữu của công ty A1, anh Nguyễn Anh H để thu hồi nợ cho V1.
Toà án đã tống đạt các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý số 02/TB-TLVA ngày 07/02/2024; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho Công ty A1 và anh Nguyễn Anh H là người đại diện theo pháp luật của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng anh H không đến Tòa án làm việc, không đưa ra lý do của sự vắng mặt và không gửi các văn bản trình bày ý của mình về yêu cầu khởi kiện của V1. Đồng thời, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định cũng tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho anh H nhưng anh H vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 21; Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự, thông qua việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tống đạt các quyết định tố tụng theo quy định tại các Điều 98, 170, 171, 175, 177, 220 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
- Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 298, 299, 300, 301, 307, 317, 320, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự 2015; điều 91, 95 Luật các tổ chức Tín dụng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V1; buộc Công ty A1 phải trả cho V1 toàn bộ nợ gốc, nợ lãi theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường hợp Công ty A1 không trả được nợ thì V1 có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp. Anh Nguyễn Anh H có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ của công ty A1 tại V1 theo Hợp đồng bảo lãnh số NDH/21073/HDBL.01 ngày 20/9/2021. Trường hợp công ty A1, anh Nguyễn Anh H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên và xử lý các tài sản thuộc quyền sử dụng, sở hữu của công ty A1 và của anh Nguyễn Anh H để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Ma Văn M là đại diện theo ủy quyền được quyền vắng mặt theo Giấy ủy quyền số của V1; anh Nguyễn Anh H là người đại diện theo pháp luật của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm lần thứ hai những vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và nội dung văn bản ủy quyền, Hội đồng xét xử vắng mặt ông M, Công ty A1 và anh Nguyễn Anh H là phù hợp.
[2] Xét Hợp đồng cho vay hạn mức số NDH/21073 ngày 20/9/2021; Khế ước nhận nợ lần 3 số NDH/21073-3 ngày 24/03/2022 và Khế ước nhận nợ lần 4 số NDH/21073-4 ngày 29/04/2022 được ký kết giữa V1 và Công ty A1:
V1 và Công ty A1 đều là các pháp nhân có đăng ký kinh doanh; việc ký hợp đồng, phụ lục hợp đồng và các văn bản khác thể hiện ý chí tự nguyện của các bên trên cơ sở nhu cầu, kế hoạch phát triển kinh doanh của doanh nghiệp; nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội; hình thức hợp đồng đảm bảo các điều kiện theo quy định pháp luật. Do đó, Hợp đồng cho vay hạn mức số NDH/21073 ngày 20/9/2021; Khế ước nhận nợ lần 3 số NDH/21073-3 ngày 24/03/2022 và Khế ước nhận nợ lần 4 số NDH/21073-4 ngày 29/04/2022 được ký kết giữa V1 và Công ty A1 và các văn bản bộ phận kèm theo đều hợp pháp, các bên đã tham gia ký kết đều phải có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện.
[3] Xét Hợp đồng bảo lãnh số NDH/21073/HDBL.01 ngày 20/9/2021 được ký kết giữa V1 và anh Nguyễn Anh H:
V1 và anh Nguyễn Anh H đều là các chủ thể tham gia giao dịch dân sự với đầy đủ năng lực hành vi dân sự; việc ký hợp đồng, phụ lục hợp đồng và các văn bản khác không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội; hình thức hợp đồng đảm bảo các điều kiện theo quy định pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều không có ý kiến đề nghị gì về hình thức, nội dung các hợp đồng. Do đó, Hợp đồng bảo lãnh số NDH/21073/HDBL.01 ngày 20/9/2021 được ký kết giữa V1 và anh Nguyễn Anh H là hợp pháp và các bên đã tham gia ký kết đều phải có nghĩa vụ thực hiện theo thỏa thuận.
[4] Xét các yêu cầu của nguyên đơn thì thấy:
4.1. Đối với yêu cầu thanh toán nợ gốc và nợ lãi:
Theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức số NDH/21073 ngày 20/9/2021; Khế ước nhận nợ lần 3 số NDH/21073-3 ngày 24/03/2022: Công ty A1 vay của V1 số tiền 520.000.000đ; thời hạn cho vay: 6 tháng (tính từ ngày 24/03/2022 đến ngày 24/09/2022); lãi suất cho vay trong hạn: Lãi suất cho vay tại thời điềm giải ngân là: 10,5%/năm (cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 01 tháng lãi suất này sẽ được điều chỉnh đình kỳ 01 tháng/lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 24/04/2022; mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất bán vốn của Bên Ngân hàng do Hội sở chính của Bên Ngân hàng áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3,7%/năm). Ngày 24/3/2022, V1 đã giải ngân cho Công ty A1 số tiền 520.000.000đ.
Ngoài ra, theo Hợp đồng cho vay hạn mức số NDH/21073 ngày 20/9/2021; Khế ước nhận nợ lần 4 số NDH/21073-4 ngày 29/04/2022, Công ty A1 vay của V1 số tiền 500.000.000đ, thời hạn vay 6 tháng (tính từ ngày tiếp theo ngày 29/04/2022 đến ngày 24/10/2022). Lãi suất cho vay trong hạn: Lãi suất cho vay tại thời điềm giải ngân là: 10,5%/năm. Cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 01 tháng lãi suất này sẽ được điều chỉnh đình kỳ 01 tháng/lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 29/05/2022. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất bán vốn của Bên Ngân hàng do Hội sở chính của Bên Ngân hàng áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3,7%/năm. Ngày 29/4/2022, V1 đã giải ngân Công ty A1 số tiền là 500.000.000đ.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty A1 đã trả cho V1 số tiền như sau:
Đối với Khế ước nhận nợ lần 3 số NDH/21073-3 ngày 24/03/2022, Công ty A1 đã trả 29,696,006 đồng (trong đó trả gốc: 4,169,289 đồng; trả lãi 25,526,717 đồng; trả lãi chậm trả 0 đồng). Công ty A1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 24/9/2022; dư nợ tính đến ngày 05/7/2024 là 694,117,806 đ (gồm: Nợ gốc: 515,830,711đ; nợ lãi: 162,350,071đ; tiền lãi chậm trả: 15,937,024đ).
Đối với Khế ước nhận nợ lần 4 số NDH/21073-4 ngày 29/04/2022, Công ty A1 đã trả 19,345,168 đồng (trong đó trả gốc: 0 đồng; trả lãi 19,345,168 đồng; trả lãi chậm trả 0 đồng). Công ty A1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 10/10/2022; dư nợ tính đến ngày 05/7/2024 là 671,244,329đ (gồm: Nợ gốc: 500,000,000đ; nợ lãi: 155,815,106đ; tiền lãi chậm trả: 15,429,223đ).
Như vậy, tính đến ngày 05/7/2024, tổng dư nợ của Công ty A1 tại V1 là 1,365,362,135đ (trong đó: Nợ gốc: 1,015,830,711đ; nợ lãi: 318,165,177đ; tiền lãi chậm trả: 31,366,247đ).
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã công khai chứng cứ, Công ty A1, anh Nguyễn Anh H không có ý kiến gì về các nội dung nguyên đơn yêu cầu. Xét việc tính lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả như V1 đã yêu cầu phù hợp với quy định của pháp luật và thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng cho vay hạn mức số NDH/21073 ngày 20/9/2021; Khế ước nhận nợ lần 3 số NDH/21073-3 ngày 24/03/2022 và Khế ước nhận nợ lần 4 số NDH/21073-4 ngày 29/04/2022. Do Công ty A1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng nên việc V1 chấm dứt hợp đồng, yêu cầu Công ty A1 phải trả khoản vay gốc còn lại và lãi như trên là có căn cứ, phù hợp pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
4.2. Đối với yêu cầu buộc Công ty A1 phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi, lãi quá hạn, lãi chậm trả và các chi phí khác phát sinh (nếu có) theo Hợp đồng tín dụng cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản nợ:
Tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm đã quy định: “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật”.
Trong khi đó, tại Điều 2, 3 Hợp đồng cho vay hạn mức số NDH/21073 ngày 20/9/2021 và khoản 5 Điều 1 Khế ước nhận nợ số 3, số D, các bên đã thỏa thuận về lãi suất gồm: Lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất nợ quá hạn, lãi suất chậm trả, việc chuyển nợ quá hạn cũng như thời gian trả lãi. Theo các tài liệu nguyên đơn nộp cho Tòa án, mức lãi suất mà V1 hiện đang áp dụng cho các khoản vay còn tồn đọng của Công ty A1 phù hợp với thỏa thuận của các bên khi giao kết hợp đồng và quy định của pháp luật hiện hành. Do đó, yêu cầu của V1 về việc đề nghị Tòa án tuyên buộc Công ty A1 thanh toán tiếp phần lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất nợ quá hạn, lãi suất chậm trả và các chi phí phát sinh khác (nếu có) theo Hợp đồng tín dụng cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản nợ là hợp pháp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
4.3. Đối với yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên trong bản án nội dung: “Trường hợp khi bản án có hiệu lực, Công ty A1 không trả hoặc trả không đủ nợ thì V1 có quyền thu giữ, tự xử lý hoặc yêu cầu cơ quan Thi hành án xác minh, kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của Công ty A1 để thu hồi khoản nợ cho V1. Trường hợp công ty A1, anh Nguyễn Anh H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên và xử lý các tài sản thuộc quyền sử dụng, sở hữu của công ty A1, anh Nguyễn Anh H để thu hồi nợ cho V1”.
Để đảm bảo cho các khoản vay từ ngày 19/8/2020 đến ngày 19/8/2023, ngày 19/8/2020, công ty A1 ký với V1 Hợp đồng thế chấp số NDH/20070/HDTC, tài sản bảo đảm là 1 xe ôtô nhãn hiệu RENAULT LATITUDE, BKS: 18A-070.82, GCNĐK xe số 009558 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 06/09/2016 đứng tên: công ty A1.
Để đảm bảo cho khoản vay tại Hợp đồng cho vay hạn mức số NDH/21073 ngày 20/9/2021, công ty A1 ký với V1 Hợp đồng thế chấp số NDH/21079 ngày 18/10/2021, tài sản bảo đảm là: 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD RANGER, BKS: 18C-121.61, GCNĐK xe số 18005215 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 21/09/2021 đứng tên: công ty A1.
Ngoài ra, theo Hợp đồng bảo lãnh số NDH/21073/HDBL.01: Bên bảo lãnh anh Nguyễn Anh H đã đồng ý bằng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho bên được bảo lãnh là Công ty A1 trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng cho vay hạn mức số NDH/21073 ký giữa Công ty A1 và V1 bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung, khế ước nhận nợ và văn bản liên quan.
Xét các thỏa thuận về thế chấp tài sản, bảo lãnh khoản vay mà các bên đã ký kết có nội dung, hình thức phù hợp với quy định của pháp luật, được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại Điều 298 Bộ luật Dân sự và Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có ý kiến gì về thế chấp tài sản bảo đảm khoản vay, anh H không có ý kiến gì về việc bảo lãnh khoản vay. Do đó, yêu cầu của V1 về việc ghi nội dung liên quan đến xử lý tài sản thế chấp, xử lý các tài sản khác và có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ của Công ty A.J.C và anh H cho V1 đến khi khoản nợ được tất toán phù hợp với các thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức số NDH/21073 ngày 20/9/2021 và Hợp đồng bảo lãnh số NDH/21073/HDBL.01 ngày 20/9/2021. Do đó, xét cần chấp nhận yêu cầu của V1 theo quy định tại các Điều 295, 299, 300, 301, 307, 317, 320 Bộ luật Dân sự.
[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 295, 298, 299, 300, 301, 307, 317, 320, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự; Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 9, Điều 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng.
Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1).
- Buộc Công ty A.J.C trả nợ cho V1 toàn bộ số tiền gốc, lãi tính đến ngày 05/7/2024 là 1,365,362,135 đ (một tỷ ba trăm sáu mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi hai nghìn một trăm ba mươi lăm đồng), trong đó: Nợ gốc: 1,015,830,711đ (một tỷ không trăm mười lăm triệu tám trăm ba mươi nghìn đông bảy trăm mười một đồng); nợ lãi: 318,165,177đ (ba trăm mười tám nghìn một trăm sáu mươi lăm nghìn một trăm bảy bảy đồng); tiền lãi chậm trả: 31,366,247đ (ba mươi mốt triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm bốn bảy đồng). Cụ thể:
- + Đối với Khế ước nhận nợ lần 3 số NDH/21073-3 ngày 24/03/2022: Tổng nợ: 694,117,806₫ (sáu trăm chín mươi tư triệu một trăm mười bảy nghìn tám trăm linh sáu đồng), trong đó: Nợ gốc: 515,830,711đ (năm trăm mười lăm triệu tám trăm ba mươi nghìn bảy trăm mười một đồng; nợ lãi: 162,350,071đ (một trăm sáu mươi hai triệu ba trăm năm mươi nghìn không trăm bảy mươi mốt đồng); tiền lãi chậm trả: 15,937,024đ (mười lăm triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn không trăm hai mươi bốn đồng).
- + Đối với Khế ước nhận nợ lần 4 số NDH/21073-4 ngày 29/04/2022: Tổng nợ: 671,244,329đ (sáu trăm bảy mươi mốt triệu hai trăm bốn mươi bốn nghìn ba trăm hai mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc: 500,000,000đ (năm trăm triệu đồng); nợ lãi: 155,815,106đ (một trăm năm mươi năm triệu tám trăm mười lăm nghìn một trăm linh sáu đồng); tiền lãi chậm trả: 15,429,223đ (mười lăm triệu bốn trăm hai mươi chín nghìn hai trăm hai mươi ba đồng).
Kể từ ngày 06/7/2024, Công ty A1 còn phải trả toàn bộ lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ cho đến khi Công ty A1 thanh toán hết nợ cho V1.
- Trường hợp khi bản án có hiệu lực, Công ty A1 không trả hoặc trả không đủ nợ thì V1 có quyền thu giữ, tự xử lý hoặc yêu cầu cơ quan Thi hành án xác minh, kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của Công ty A1 để thu hồi khoản nợ cho V1. Tài sản bảo đảm gồm: 01 xe ô tô con nhãn hiệu RENAULT LATITUDE, BKS 18A-070.82, GCNĐK xe số 009558 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 06/09/2016 đứng tên Công ty A1 và 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD RANGER, BKS 18C-121.61, GCNĐK xe số 18005215 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 21/09/2021 đứng tên Công ty A1.
- Anh Nguyễn Anh H có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ của công ty A1 tại V1 theo Hợp đồng bảo lãnh số NDH/21073/HDBL.01 ngày 20/9/2021.
- Trường hợp công ty A1, anh Nguyễn Anh H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xác minh, kê biên và xử lý các tài sản thuộc quyền sử dụng, sở hữu của công ty A1, anh Nguyễn Anh H để thu hồi nợ cho V1.
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
- - Buộc Công ty Cổ phần A1 phải nộp 52,960,800đ (năm mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi nghìn, tám trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - H1 lại cho V1 số tiền 25,000,000₫ (hai mươi lăm triệu đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại biên lai số 0003042 ngày 01-02-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hòe |
Bản án số 06/2024/KDTM-ST ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 06/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Vpbank và Công Ty AJC
