Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/DS-PT

Ngày 05 - 01 -2024

“Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà
Các Thẩm phán Ông Lê Đình Nam
Ông Trần Văn Thưởng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 107/2023/TLPT-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2023/DS -ST ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 10/2023/QĐ-PT ngày 15 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự :

  1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị P (tên thường gọi Ngô Thị P1); địa chỉ: D C, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
  2. Bị đơn: Bà Phạm Thùy T; địa chỉ: A Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
  3. Người kháng cáo: Bị đơn là bà Phạm Thùy T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Nguyên đơn là bà Ngô Thị P trình bày:

Do có mối quan hệ quen biết nên bà có cho bà Phạm Thùy T vay tiền nhiều lần, tổng cộng số tiền Phạm Thùy T đã vay của bà là 1.100.000.000 đồng tiên nợ gốc, cụ thể: Ngày 23-11-2021, bà Phạm Thùy T vay của bà 400.000.000 đồng; ngày 17-01-2022, bà Phạm Thùy T vay của bà 500.000.000 đồng; ngày 25-07-2022, bà Phạm Thùy T vay của bà 200.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận với nhau lãi suất vay là 4,5%/tháng. Bà Phạm Thùy T có trả tiền lãi cho bà được vài tháng, đến tháng 01-2023 thì bà T không trả tiền lãi cho bà nữa.

Ngày 30-12-2022, bà T có trả cho bà 39.600.000 đồng; vào các ngày 12-10-2022, ngày 10-12- 2022 và ngày 08-01-2023 chồng bà là anh T1 có đến mua máy của cửa hàng chị T với số tiền là 124.717.000 đồng. Vì vậy, bà đồng ý trừ số tiền nêu trên vào tiền gốc mà chị T đã vay của tôi. Tôi khởi kiện yêu cầu chị trang phải trả cho tôi 935.683.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất là 20%/ năm. Thời điểm tính tiền lãi từ ngày 8-1-2023 đến ngày xét xử sơ thẩm.

2.Bị đơn là bà Phạm Thùy T trình bày:

Bà T thừa nhận có vay của bà Ngô Thị P số tiền 1.100.000.000 đồng, trong quá trình vay tiền bà có đóng lãi đầy đủ cho bà Ngô Thị P với mức lãi suất 4,6%/tháng, nhưng đến tháng 12-2022 bà gặp khó khăn về tài chính, nên mất khả năng đóng lãi. Về lãi bà thanh toán cho bà Ngô Thị P theo hình thức chuyển khoản ngân hàng. Đến ngày 30-12-2022 bà có bán được một thửa đất và có trả cho bà P số tiền 39.600.000 đồng, sau đó vào các ngày 12-10-2022, ngày 10-12- 2022 và ngày 08-01-2023 anh Nguyễn Minh T2 là chồng của chị P có đến mua máy của cửa hàng bà với số tiền là 124.717.000 đồng sẽ trừ vào tiền gốc mà bà Phạm Thùy T đã nợ bà P. Tổng số tiền lãi bà đã đóng cho bà P từ ngày 24-12-2021 đến ngày 10-12-2022 là 432.633.000 đồng. Bà đề nghị Tòa án xem xét lại mức lãi suất mà bà đã đóng cho bà P. Bà đồng ý trả tiền cho nguyên đơn số tiền còn lại sau khi trừ đi số tiền lãi mà bà đã trả cho nguyên đơn vượt quá so với quy định của pháp luật (yêu cầu tính 10%/năm).

Do có tranh chấp về lãi suất bà P xác định mức lãi suất là 4,5%/ tháng còn tôi xác định mức lãi suất là 4,6%/ tháng. Do đó, yêu cầu tòa án tính mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 là 10%/ năm.

3.Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2023/DS -ST ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • -Áp dụng các Điều 280, 357, 463, 466 và Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bản thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Ngô Thị P.
  • Buộc bị đơn bà Phạm Thùy T phải trả cho nguyên đơn bà Ngô Thị P số tiền là: 777.609.556 đồng; trong đó bao gồm: 691.550.000 đồng tiền nợ gốc và 86.059.556 đồng tiền lãi.
  • Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, thông báo quyền thoả thuận, quyền yêu cầu, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án; tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
  • Ngày 5-9-2023 Bị đơn là bà Phạm Thùy T kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

8.Tại phiên toà phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, và thống nhất với bị đơn về lãi suất của khoản vay 400.000.000 đồng là 4,5%/ tháng. Còn đối với các khoản vay còn lại thì bà không thống nhất với bị đơn về phần lãi suất.

Bị đơn giữ nguyên kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định về việc giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm và yêu cầu kháng cáo như sau:

1. Về nợ gốc:

Cả bà P và chị T đều xác định chị T nợ bà P2 tổng số tiền 1.100.000.000 đồng. Bà P thừa nhận ngày 30-12-2022, chị T có trả cho bà 39.600.000 đồng; vào các ngày 12-10-2022, ngày 10-12- 2022 và ngày 08-01-2023 chồng bà P là anh M có đến mua máy của cửa hàng chị T với số tiền là 124.717.000 đồng. Bà P đồng ý cấn trừ số tiền trên vào khoản vay của chị T xác định tiền nợ gốc là 935.683.000 đồng. Ngoài ra, bà P cũng xác định trong khoản thời gian từ ngày 23-11-2021 đến ngày 30-12-2022 chị T cho trả tiền lãi cho bà với tổng số tiền là 432.633.000 đồng. Căn cứ vào Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là sự việc không phải chứng minh.

Bị đơn là bà T cho rằng tiền lãi mà bà trả cho bà P1 là quá cao nên yêu cầu tính lại mức lãi suất theo quy định của pháp luật. Bà T cho rằng mức lãi suất giữa các bên thỏa thuận theo từng khoản là 4,5%/ tháng có khoản là 4,8%/ tháng. Bà P trình bày bà cho bà T vay với mức lãi suất là 4,5%/ tháng. Như vậy, có thể xác định hợp đồng vay giữa bà P với bà T là hợp đồng vay không kỳ hạn và có thỏa thuận về lãi suất. Giữa bà T và bà P không có sự thống nhất với nhau về mức lãi suất nên căn cứ vào khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự xác định lại mức lãi suất là 10%/năm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà P1 thống nhất với bà T đối với khoản vay 400.000.000 đồng các bên thỏa thuận lãi suất là 4,5%/ tháng nên không có tranh chấp về lãi suất nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ áp dụng khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự xác định mức lãi suất là 20%/năm.

Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại phần lãi suất vượt quá như sau:

  • -Đối với khoản vay 400.000.000 đồng tiền lãi phải trả theo quy định là 20%/năm trong khoản thời gian từ ngày 23-11-2021 đến ngày 10-12-2022:
  • 400.000.000 đồng x 0,055%/ngày x 383 ngày = 84.460.000 đồng.
  • -Đối với khoản vay 500.000.000 đồng tiền lãi phải trả theo quy định là 10%/năm trong khoản thời gian từ ngày 17-1-2022 đến ngày 10-12-2022:
  • 500.000.000 đồng x 0,0277%/ngày x 328 ngày = 45.428.000 đồng.
  • -Đối với khoản vay 200.000.000 đồng tiền lãi phải trả theo quy định là 10%/năm trong khoản thời gian từ ngày 25-7-2022 đến ngày 10-12-2022:
  • 200.000.000 đồng x 0,0277%/ngày x 139 ngày = 7.506.000 đồng.
  • => Tổng số tiền lãi được tính theo mức lãi suất 10%/năm và 20%/năm là 84.460.000 đồng + 45.428.000 đồng + 7.506.000 đồng = 137.194.000 đồng

Cả bà T và bà P1 đều thống nhất tiền lãi bà T trả cho bà T3 đối với 3 khoản nợ nêu trên là 432.633.000 đồng. Như vậy, tiền lãi vượt quá mức quy định là: 432.633.000 đồng - 137.194.000 đồng = 295.439.000 đồng.

Tiền gốc bà T phải trả cho bà P1 khi đã trừ tiền lãi vượt quá quy định là: 935.683.000 đồng - 295.439.000 đồng = 640.244.000 đồng.

2. Tiền lãi: Vì là hợp đồng tính lãi nên xác định tiền lãi của 640.244.000 đồng tiền gốc theo quy định là 10%/năm tính từ ngày 8-1-2023 đến ngày 22-8-2023 là:

640.244.000 đồng x 0,0277%/ngày x 226 ngày = 40.080.554 đồng

Bà T phải trả cho bà P1 680.324.555 đồng (trong đó có 640.244.000 đồng tiền gốc và 40.080.554 đồng tiền lãi).

3. Do Tòa án cấp phúc thẩm sửa lại bản án sơ thẩm nên sửa lại án phí dân sự sơ thẩm. Theo đó bà T phải chịu 31.121.982 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Ngô Thị P (Ngô Thị P1) phải chịu 12.767.922 đồng đối với phần không được chấp nhận.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Hội đồng xét xử phúc thâm sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 148, khoản 2 điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 3 điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

-Áp dụng Các Điều 280, 282, 463, 466, 468, 469 của Bộ luật dân sự

Tuyên xử :

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn là bà Phạm Thùy T sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2023/DS -ST ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
    1. Buộc bà Phạm Thùy T phải trả cho bà Ngô Thị P (Ngô Thị P1) số tiền 680.324.555 đồng (trong đó có 640.244.000 đồng tiền gốc và 40.080.554 đồng tiền lãi).

      Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    2. Án phí dân sự sơ thẩm:
      • -Bà Phạm Thùy T phải chịu 31.121.982 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung công quỹ.
      • -Bà Ngô Thị P (Ngô Thị P1) phải chịu 12.767.922 đồng nhưng được trừ vào số tiền 26.250.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000096 ngày 5-4-2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku. Bà Ngô Thị P được hoàn trả 13.482.078 đồng.
  2. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Phạm Thùy T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho bà Phạm Thùy T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ưng án phí, lệ phí số 0001258 ngày 11-09-2023 của Chi cục thi hành án thành phố Pleiku.

  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy dịnh tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND thành phố Pleiku;
  • - VKSND thành phố Pleiku;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Pleiku;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Toà DS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Lê Văn Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/DS-PT ngày 05/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 06/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp vay tài sản sửa bản án tính lại lãi suất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger