|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2024/HS-ST Ngày 05-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hậu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tư
Bà Lê Bích Thuỷ.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đoàn Quảng Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 192/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 785/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 781/2023/QĐST-HS ngày 28/12/2023 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 01/TB-TA của Toà án nhân dân quận Ngô Quyền ngày 02/01/2024 đối với các bị cáo:
- Võ Thanh L, sinh ngày: 14/5/1998 tại Quảng Nam. Nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Trường S và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Lê Thị L1 và 02 con; tiền án, tiền sự; nhân thân: Bản án số 16/2015/HSST ngày 10/3/2015, Tòa án nhân dân huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (được coi là chưa có án tích do thực hiện hành vi phạm tội khi 16 tuổi 03 tháng); bị bắt giữ từ ngày 25/3/2023 đến ngày 03/4/2023 chuyển tạm giam; có mặt.
- Nguyễn Ngọc T, sinh ngày: 15 tháng 7 năm 1998 tại Quảng Nam. Nơi cư trú: tổ A, thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn H và bà Võ thị H1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự; nhân thân: Không; bị bắt giữ từ ngày 25/3/2023 đến ngày 03/4/2023 chuyển tạm giam; có mặt.
- Nguyễn Văn Q, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2001 tại Quảng Nam. Nơi cư trú: Tổ A, thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H2 và bà Nguyễn Thị L2; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự; nhân thân: Không; bị bắt giữ từ ngày 29/3/2023 đến ngày 03/4/2023 chuyển tạm giam; có mặt.
Bị hại: Anh Trần Tuấn L3, sinh năm: 1993; nơi cư trú: Số B đường V, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có công việc, thu nhập ổn định nên Võ Thanh L nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đầu tháng 12/2022, L sử dụng số điện thoại 0326.896.xxx tạo tài khoản zalo “Auto Phương B” và tài khoản facebook “Nguyễn Lê Phương B1 (Auto Phương B2)” để tải và đăng các hình ảnh ô tô có trên mạng lên facebook nhằm mục đích lừa bán cho người khác rồi chiếm đoạt tiền mua xe. Đồng thời, L nhờ Nguyễn Văn D (sinh ngày 05/7/1995, nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện V, Hải Phòng) mở tài khoản ngân hàng số 1021079381 và 1021101796 tại Ngân hàng S1 với giá 700.000 đồng/tài khoản và mở tài khoản ngân hàng số [...] tại Ngân hàng V với giá 4.000.000 đồng. Các tài khoản ngân hàng đều có tên chủ tài khoản là “Nguyễn Lê Phương B1”. Đầu tháng 02/2023, L rủ Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Văn Q thuê nhà trọ ở số A đường N, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng để cùng thực hiện hành vi phạm tội và chia tiền hưởng lợi. L mua cho T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X để Trái đăng nhập tài khoản facebook “Nguyễn Lê Phương B1” trả lời tin nhắn của khách hỏi mua xe, rồi hướng dẫn khách nhắn tin đến tài khoản zalo “Auto Phương B” do L quản lý. Khi lừa được tiền của bị hại, L, T, Q chuyển tiền đến tài khoản của người dân rồi lấy tiền mặt để trốn tránh sự truy tìm của Cơ quan Công an.
Ngày 09/02/2023, anh Trần Tuấn L3 (sinh ngày 17/02/1993, nơi cư trú: số B đường V, phường M, quận N, Hải Phòng) nhắn tin và thỏa thuận với L mua 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mercedes màu trắng với giá 300.000.000 đồng. L yêu cầu anh L3 chuyển 20.000.000 đồng đặt cọc xe vào tài khoản số 1021079381 ngân hàng S1. Sau khi nhận được tiền, L chuyển tiền đến tài khoản của 01 người lái xe ôm G không quen biết và thuê người này rút tiền hộ trả công 500.000 đồng. Ngày 10, 12, 13/02/2023, anh L3 lần lượt chuyển 30.000.000 đồng, 20.000.000 đồng, 30.000.000 đồng để mua xe vào tài khoản số 1021101796 ngân hàng S1 và tài khoản số [...] ngân hàng VIB của L. Sau khi nhận được tiền, L kể cho T, Q về việc đã lừa chiếm đoạt được tiền của anh L3 rồi cùng T, Q đi đến quán cầm đồ (chưa xác định địa chỉ) để rút tiền. Tại quán cầm đồ, L ở ngoài đợi, T và Q trực tiếp vào giao dịch, hỏi số tài khoản của chủ quán cầm đồ và phí rút đổi tiền rồi thông báo cho L để L chuyển tiền vào tài khoản của chủ quán cầm đồ. Sau đó, T và Q lấy tiền mặt và trả phí rút tiền cho chủ quán cầm đồ. Mỗi lần rút tiền, L, T và Q đến cửa hàng cầm đồ khác nhau. Từ ngày ngày 10/02/2023 đến ngày 13/02/2023, nhóm rút được số tiền 80.000.000 đồng, L chia cho T và Q mỗi người 20.000.000 đồng.
Ngày 14/02/2023, anh L3 chuyển tiếp 100.000.000 đồng để mua xe vào tài khoản số [...] ngân hàng VIB của L. L cùng T và Q rút tiền theo cách thức trên, L chia cho T và Q mỗi người 25.000.000 đồng.
Đến ngày 15/02/2023, L sử dụng số điện thoại 0708.054.xxx giả danh người vận chuyển để gọi cho anh L3 báo xe ô tô của L3 đã về đến Hà Nội và đang chờ xe cứu hộ chở về nhà anh L3, sau đó L gọi điện qua Z yêu cầu anh L3 chuyển nốt số tiền còn lại, anh L3 nói bao giờ có xe thì anh L3 mới chuyển tiền nhưng L không đồng ý. L yêu cầu anh L3 phải chuyển cho L số tiền 90.000.000 đồng thì mới giao xe tới nhà cho anh L3. Để gây áp lực và tạo thêm niềm tin, L mượn điện thoại Iphone X của Trái rồi lắp sim điện thoại số 0793.393.xxx gọi điện thoại cho anh L3 và giả danh là lái xe cứu hộ đang vận chuyển xe, giục anh L3 chuyển tiền. Anh L3 tin tưởng nên đã chuyển số tiền 90.000.000 đồng đến tài khoản VIB của L. L cùng T và Q đi rút tiền, L chia cho T và Q mỗi người 20.000.000 đồng.
Sau khi nhận được tổng số tiền 290.000.000 đồng do anh L3 chuyển, L đã chia cho T, Q mỗi người tổng số tiền 65.000.000 đồng. L xóa tài khoản zalo, facebook, cắt liên lạc với anh L3, đồng thời bán chiếc điện thoại Iphone 11 Promax đã sử dụng trong quá trình phạm tội cho cửa hàng Đ (địa chỉ: đường T, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam).
Ngày 17/02/2023, anh L3 trình báo sự việc đến Công an quận N. Ngày 25/3/2022, Võ Thanh L đến Công an phường M đầu thú, giao nộp 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh (A3). Cùng ngày, Công an quận N tiến hành bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Ngọc T, thu giữ của Trái 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng (A2). Ngày 29/3/2022, Nguyễn Văn Q đến Công an quận N đầu thú.
Anh Nguyễn Hoàng N (chủ cửa hàng điện thoại H) tự nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại Iphone 11 Promax (A4) cho Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Thực hiện khám xét khẩn cấp nơi ở của Võ Thanh L, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn Q không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn D khai: Sau khi được L thuê làm tài khoản ngân hàng, D dùng ứng dụng Telegram nhắn tin đến tài khoản “Banking 24h” của đối tượng D1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) thuê làm 02 tài khoản ngân hàng S1 với giá 500.000 đồng/tài khoản và 01 tài khoản ngân hàng V với giá 3.500.000 đồng. Sau khi D1 làm xong tài khoản, D giao lại cho L và hưởng lợi số tiền 900.000 đồng. Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, D tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Iphone 14 Pro màu tím (A1).
Kết luận giám định số 256/KL-KTHS ngày 09/6/2023 của Phòng K Công an thành phố H đối với 04 điện thoại di động thu giữ cho kết quả trích xuất dữ liệu từ điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X (A2), I (A4) phù hợp với nội dung trên.
Về vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự:
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh và Iphone 14 Pro màu tím không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình Võ Thanh L và Nguyễn Văn D;
- Chuyển 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền quản lý;
- Gia đình L, Q, T đã bồi thường cho anh Trần Tuấn L3 số tiền 290.000.000 đồng, anh L3 không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
- Anh Nguyễn Hoàng N không yêu cầu L bồi thường giá trị chiếc điện thoại Iphone 11 Promax đã giao nộp.
Tại Bản Cáo trạng số 201/CT-VKSNQ ngày 28/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Võ Thanh L, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn Q về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận hành vi thực hiện như nội dung nêu trên, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
Bị hại anh Trần Tuấn L3 vắng mặt tại phiên tòa đã được công bố các lời khai có trong hồ sơ thể hiện anh L3 đã nhận đủ số tiền 290.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, đồng thời anh L3 xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Võ Thanh L mức án từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; bị cáo Nguyễn Ngọc T mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; bị cáo Nguyễn Văn Q mức án từ 07 năm đến 08 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an quận N, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
[2] Lời khai của các bị cáo Võ Thanh L, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Ngọc Q1 tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ, khẳng định: Từ ngày 09/02/2023 đến ngày 15/02/2023, các bị cáo Võ Thanh L, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn Q cùng thống nhất ý chí dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt số tiền 290.000.000 đồng của anh Trần Tuấn L3.
[3] Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Võ Thanh L, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Ngọc Q1 phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174, Điều 17 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Các bị cáo chiếm đoạt số tiền 290.000.000 đồng vì vậy các bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
[5] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; riêng bị cáo L, Q1 đã ra đầu thú; bị cáo L có ông nội là thương binh được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì do vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xét vai trò phạm tội của các bị cáo:
[8] Bị cáo L là người chủ mưu, rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác trong đồng phạm, trực tiếp thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, là người phân chia tiền chiếm đoạt được cho các bị cáo khác, hưởng lợi số tiền nhiều nhất trong đồng phạm vì vậy bị cáo có vai trò chính trong đồng phạm. Tiếp theo đến bị cáo T là người thực hành với vai trò thứ yếu, giúp L quản lý trang facebook để trả lời tin nhắn của khách hỏi mua xe, giúp bị cáo L đi rút tiền chiếm đoạt của khách mua xe và hưởng lợi từ số tiền đó. Cuối cùng là bị cáo Q1 là người giúp sức, thực hiện hành vi đi rút tiền từ tài khoản của L đã chiếm đoạt của khách mua xe và hưởng lợi từ số tiền đó nên vai trò của Q1 là thấp nhất trong đồng phạm.
- Về nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[9] Bị cáo L nhân thân có 01 tiền án mặc dù đã được xoá án nhưng cần nhận định bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật kém; các bị cáo T, Q1 mặc dù nhân thân chưa có tiền án tiền sự nhưng hành vi phạm tội của của cả ba bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội, số tiền chiếm đoạt là lớn trên 200 triệu đồng. Vậy cần thiết áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, buộc các bị cáo phải cải tạo tại cơ sở giam giữ theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự mới đủ tác dụng giáo giục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về xử lý vật chứng:
[10] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax thu của bị cáo L và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng thu của bị cáo T do đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội.
- Về trách nhiệm dân sự:
[11] Bị hại anh Trần Tuấn L3 đã được các bị cáo bồi thường số tiền 290.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Anh Nguyễn Hoàng N không yêu cầu bị cáo L bồi thường giá trị chiếc điện thoại Iphone 11 Promax đã giao nộp. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[12] Các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[13] Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Võ Thanh L 09 (chín) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/3/2023.
Bị cáo Nguyễn Ngọc T 08 (tám) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/3/2023.
Bị cáo Nguyễn Văn Q 07 (bảy) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/3/2023.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax thu của bị cáo L và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng thu của bị cáo T (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2023 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành án nhân dân quận Ngô Quyền).
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Võ Thanh L, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Ngọc Q1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Các bị cáo Võ Thanh L, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Ngọc Q1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại anh Trần Tuấn L3 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hậu |
Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 06/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lam Trai QUy
