Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

 

Bản án số: 06/2024/HSST

Ngày 05/01/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Quang Long;

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tiến Chuyển;

2. Ông Đoàn Văn Minh;

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thụ - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm - thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm - thành phố Hà Nội, tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại Phòng xét xử trực tuyến Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 382/2023/HSST ngày 01/12/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 384/2023/QĐXXST-HS ngày 12/12/2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn N, sinh ngày: 08/10/2005; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Phạm Văn T và bà Hà Thị H; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; D chỉ bản số 818 ngày 12/10/2023 tại Công an quận N, thành phố Hà Nội.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2023, hiện đang tạm giam tại Trại giam S Công an thành phố H. Số giam: 5011C2/7. Có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo N: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1982, bà Hà Thị H, sinh 1986 (bố mẹ đẻ bị cáo); ĐKNKTT: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt tại phiên toà;

Người bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo có ông Nguyễn Quang Á – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; Có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 04/10/2023, Công an phường Đ làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn quận N, khi đi đến khu vực đường C, phường P, quận N, Hà Nội thì phát hiện Phạm Văn N đang đứng cùng 01 nam thanh niên (không xác định được nhân thân) có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Khi thấy Công an phường Đ tiến gần đến thì nam thanh niên đã bỏ chạy, làm rơi chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 có lắp sim cùng 460.000 đồng, còn N thả xuống đất 01 gói giấy bạc màu trắng. Quá trình kiểm tra, N thừa nhận 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy H1, N mang đi để bán cho nam thanh niên vừa bỏ chạy. Công an phường Đ tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, bàn giao Phạm Văn N cùng tang vật và phương tiện về trụ sở để xác minh làm rõ.

Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy bạc màu trắng, kích thước (2*0,5)cm bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, gắn sim số: 0878562600; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, gắn sim số 0372251575; 460.000 đồng tiền ngân hàng Việt Nam.

Theo Phạm Văn N khai nhận bản thân là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, hay đi lang thang ở khu vực T, Bắc Ninh nên quen một người nghiện ma túy tên là T1 (chưa xác định được). Khoảng 12 giờ ngày 04/10/2023, khi N đang đi bộ lang thang ở đường tỉnh lộ 259B đoạn giao cắt với khu phố C, phường Đ, thành phố T, Bắc Ninh thì T1 đi xe máy kiểu dáng Honda Wave, màu đen (N không nhớ BKS) đến rủ N “Ngồi lên đây đi với anh”, N hỏi “Đi đâu đấy anh?” thì T1 nói: “Đi giao đồ cho khách quen bạn của anh, xong xuôi anh cho mày một trăm nghìn”, N hiểu là đi giao ma túy nhưng muốn được hưởng lợi 100.000 đồng nên đã đồng ý lên xe cùng T1 đi. Trên đường đi, T1 đưa cho N một chiếc điện thoại Nokia 105 màu đen, lắp sim số 0878562600 và một gói Heroin được gói trong giấy bạc (T1 gọi là “một hạt”) và bảo N “Có số đuôi 575 gọi đến thì nghe xem địa chỉ ở đâu để anh đi”. N cầm lấy điện thoại và cất gói H1 vào túi quần phía trước bên trái. Sau đó có người sử dụng số điện thoại 0372.251.xxx gọi đến số điện thoại của N và nói “Khi nào đến cổng Bệnh viện H2 ở P thì gọi lại cho anh, anh ra đón”. Đến khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, khi T1 và N đến khu vực Bệnh viên H trên đường C, phường P, quận N, thì T1 bảo N gọi lại cho khách thì được hướng dẫn đứng đợi gặp để giao dịch. Khi nhìn thấy khách đi từ trong ngõ ra thì T1 bảo N đi vào ngõ gặp khách giao ma túy và thu lấy 500.000 đồng còn T1 đợi ở ngoài đường. Khi N vừa lấy ma túy ra khỏi túi quần và đợi khách đếm tiền trả thì bị Công an phường Đ phát hiện, lập biên bản đưa N cùng tang vật, phương tiện về trụ sở để xác minh làm rõ, còn T1 cùng khách mua ma túy thì đã bỏ chạy mất.

Tại Kết luận giám định số 6736/KL-KTHS ngày 11/10/2023 của Phòng K - Công an thành phố H, xác định: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,158 gam”.

Đối với người đàn ông tên T1 đưa ma túy cho N, quá trình điều tra xác định: N không rõ nhân thân lai lịch của T1, chỉ cùng sử dụng ma túy với nhau vài lần, N chỉ biết quê T1 ở Lạng Sơn. Lúc đi bán ma túy, T1 dùng xe máy kiểu dáng Honda Wave (N không nhớ BKS) để chở N. Cơ quan điều tra tiến hành dẫn giải N chỉ địa điểm nơi mà T1 rủ N đi bán ma túy tại đường T khu phố C, phường Đ, thành phố T, Bắc Ninh. Cơ quan Công an phường Đ phối hợp cùng cơ quan Công an phường Đình Bảng tiến hành rà soát quanh khu vực trên nhưng không phát hiện gì, do đó chưa đủ căn cứ xử lý đối với T1.

Về số điện thoại 0878.562.xxx mà T1 đưa cho N, quá trình điều tra xác minh, xác định chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1993, CCCD: [...], HKTT: TDP D, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại Cơ quan điều tra, anh L khai nhận không sử dụng số điện thoại trên và cùng không biết ai đăng ký sử dụng, anh L không quen ai tên T1 và Phạm Văn N do đó không có căn cứ xử lý đối với anh L.

Đối với nam thanh niên (sử dụng số điện thoại 0372.251.xxx) mua ma túy của T1 và N, quá trình điều tra xác minh, xác định: N không biết nhân thân lai lịch của người này. Cơ quan Công an quận N tiến hành dẫn giải N đến vị trí N bán ma túy cho nam thanh niên (sử dụng số điện thoại 0372.251.xxx) tại đầu ngõ khu bãi rác dân sinh đường C, P, Hà Nội. Cơ quan Công an quận N phối hợp cùng Công an phường Đ và Công an phường P tiến hành rà soát xung quanh vị trí tại đầu ngõ khu bãi rác dân sinh đường C, P, Hà Nội nhưng không phát hiện gì, do đó chưa đủ căn cứ xử lý đối với nam thanh niên này.

Đối với số điện thoại 0372.251.xxx mà người mua ma túy của T1 và N sử dụng, quá trình điều tra xác minh, xác định: chủ sở hữu là chị Trần Thị P, sinh năm 1974, HKTT: xã Đ, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh). Tại CQĐT, chị P khai nhận không sử dụng số điện thoại trên, cũng không biết ai sử dụng và không quen ai tên T1 và Phạm Văn N do đó không có căn cứ xử lý đối với chị P.

Tại bản cáo trạng số 394/CT-VKSNTL ngày 24/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn N thừa nhận: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 04/10/2023, N được T1 (là đối tượng quen biết qua xã hội, N không biết họ, tên đầy đủ và địa chỉ) rủ đi bán ma tuý cùng ở khu bãi rác dân sinh đường C thuộc phường P, quận N, thành phố Hà Nội cho 01 đối tượng không quen biết sử dụng số điện thoại 0372.251.xxx đất 01 gói ma tuý là hêrôin với giá 500.000đồng. Nếu bán trót lọt thì T1 sẽ cho N 100.000đồng. Đến điểm hẹn, N và T1 được người dùng số điện thoại 0372.251.xxx liên hệ nói đi vào khu ngõ gần bệnh viện H2, đường C thuộc phường P, quận N giao ma tuý và lấy tiền nên T1 bảo N mang ma tuý vào, còn T1 đứng ở ngoài. Khi N đi vào ngõ gặp người đàn ông dùng số điện thoại 0372.251.xxx để giao ma tuý nhưng chưa kịp giao ma tuý cho đối tượng không quen biết có dùng số điện thoại 0372.251.xxx liên lạc thì bị Công an kiểm tra bắt giữ. Người đàn ông bỏ chạy có rơi lại chiếc điện thoại N1 1280 và 460.000đồng. Công an thu giữ của N 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroin. Bị cáo thừa nhận mua bán ma túy ngày 04/10/2023, tuy nhiên chưa được hưởng lợi từ việc bán ma túy. Đây là lần đầu bị cáo bán ma tuý thì bị bắt giữ. Bị cáo biết hành vi của mình sai phạm pháp luật.

Người bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo tại phiên toà đề nghị Toà án xem xét các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt mức án nhẹ nhất đối với bị cáo.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo nhất trí lời trình bày bị cáo không có bổ sung gì thêm, đề nghị Toà án xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ quan điểm như cáo trạng đã truy tố, Phạm Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đề nghị áp dụng khoản 1 điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 90, Điều 91, Điều 101 và Điều 54 Bộ luật hình 2015, sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Phạm Văn N từ 18 -21 tháng tù, hạn tù tính từ ngày 04/10/2023.

Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: 01 gói giấy bạc màu trắng, kích thước (2*0,5)cm bên trong chứa chất bột ma túy loại heroin cho tịch thu tiêu hủy. Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, gắn sim số: 0878562600, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, gắn sim số 0372251575, 460.000 đồng tiền ngân hàng Việt Nam.

Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cũng như hành vi của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tòa án. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa hôm nay xác định được: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 04/10/2023, tại khu vực đường C, phường P, quận N, Hà Nội, Phạm Văn N có hành vi mua bán trái phép ma túy loại Hêrôin, khối lượng 0,158 gam, nhưng chưa kịp giao và nhận tiền bán ma tuý thì bị Công an phường Đ phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo Phạm Văn N đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật.
  3. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn N đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà mình đã vi phạm. Song khi lượng hình cũng xem xét cho bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như: Về nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, tại thời điểm phạm tội bị cáo còn ở độ tuổi vị thành niên phạm tội để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.
  4. Hình phạt bổ sung bị cáo phạm tội ở tuổi vị thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  5. Vật chứng vụ án: 01 phong bì niêm phong kín, bên ngoài có chữ ký của Phạm Văn N, cán bộ Công an phường Đ, Giám định viên phòng PC09-CATP Hà Nội là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, gắn sim số 0878562600, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, gắn sim số 0372251575 và 460.000 đồng tiền ngân hàng Việt Nam dùng vào mục đích phạm tội cần tịch thu sung công.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 và có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Căn cứ các nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47, Điều 90, Điều 91, Điều 101 và Điều 54 Bộ luật hình 2015, sửa đổi bổ sung 2017;

Các Điều 106; Điều 331; Điều 333; Điều 336 BLTTHS 2015;

Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Phạm Văn N 18 (mười tám) tháng tù, hạn tù tính từ ngày 04/10/2023.

Hình phạt bổ sung: Không.

Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 gói giấy bạc màu trắng, kích thước (2*0,5)cm bên trong chứa chất bột ma túy loại heroin; Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, gắn sim số 0878562600, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, gắn sim số 0372251575 và 460.000 đồng tiền ngân hàng Việt Nam. Hiện vật chứng nêu trên đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm theo biên bản giao nhận vật chứng số 72 ngày 29/11/2023 và Giấy nộp tiền vào Tài khoản ngày 29/11/2023 tại Kho bạc nhà nước quận N.

Về án phí: Bị cáo Phạm Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -UBND phường, xã nơi bị cáo cư trú;
  • -Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • -TAND thành phố Hà Nội;
  • -VKSND thành phố Hà Nội;
  • -Sở tư pháp thành phố Hà Nội;
  • -Công an quận Nam Từ Liêm;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • -THADS quận Nam Từ Liêm;
  • -Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa

Vũ Quang Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HSST ngày 05/01/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội về mua bán trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 06/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Nhung-Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger