Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST

Ngày 05/01/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Thắng;

2. Ông Ngô Thanh Ngọc Cảnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 397/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 154/2023/QÐST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Dư Văn H, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Số A, Tổ B, ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. Có đơn xin vắng mặt.

* Bị đơn: Chị Lê Thị Kim C, sinh năm 1994;

Địa chỉ: Số A, Tổ B, ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 26/7/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Dư Văn H trình bày như sau:

Anh và chị Lê Thị Kim C tự tìm hiểu, quen biết nhau được một năm thì tiến tới chung sống với nhau vào năm 2015, không có tổ chức đám cưới, hôn nhân lần thứ nhất của cả hai. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang ngày 17/06/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tới tháng 12/2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị C không phụ tiếp anh trong việc nuôi dạy con cái, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nay nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Lê Thị Kim C.

Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung tên Dư Văn D, sinh ngày 07/6/2014 và Dư Văn T, sinh ngày 17/01/2017, hiện nay đang ở với anh. Sau ly hôn, anh yêu cầu được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi 02 con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh xác định giữa anh với chị C không có tài sản chung và nợ chung.

Do hiện nay anh đang đi làm ở xa, đi lại khó khăn nên anh có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa khi vụ án được đưa ra xét xử.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị C đến để tiến hành hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng chị C vẫn vắng mặt không có lý do và không cung cấp lời khai.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đã vi phạm Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 tuyên: Về hôn nhân: Anh Dư Văn H được ly hôn với chị Lê Thị Kim C. Về con chung: Giao 02 cháu Dư Văn D, sinh ngày 07/6/2014 và Dư Văn T, sinh ngày 17/01/2017 cho anh H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung và nợ chung: Không xem xét. Anh H chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Dư Văn H (là nguyên đơn trong vụ án) có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Lê Thị Kim C (là bị đơn trong vụ án) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị C.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Anh H và chị C chung sống với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang ngày 17/6/2016 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh H xin ly hôn nên Toà án thụ lý, giải quyết là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Trong quá trình hôn nhân, anh H trình bày quá trình chung sống hai vợ chồng bất đồng quan điểm, chị C không phụ tiếp anh trong việc chăm sóc con cái, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Hai vợ chồng sống ly thân từ tháng 12/2022 đến nay.

Cuộc sống hôn nhân, vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, trở thành một tế bào của xã hội, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa anh H và chị C đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Tòa án đã triệu tập chị C để tham gia phiên hòa giải nhưng chị C vắng mặt và không trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của anh H. Như vậy, xét thấy quan hệ vợ chồng giữa

anh H và chị C đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai bên không đạt được nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của anh H là được ly hôn với chị C.

[2.2] Về con chung:

Anh H xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng anh chị có 02 con chung tên Dư Văn D, sinh ngày 07/6/2014 và Dư Văn T, sinh ngày 17/01/2017, hiện nay đang sống cùng với anh. Anh yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung sau ly hôn.

Xét thấy, hiện nay 02 cháu D và cháu T đang sống với anh H và cháu D cũng có nguyện vọng được sống với anh H. Do đó, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của 02 cháu, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho 02 cháu, giúp 02 cháu phát triển tốt về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử giao 02 cháu D và cháu T cho anh H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, tuy nhiên anh H không yêu cầu chị C phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Anh H phải tạo điều kiện cho chị C được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh H không tranh chấp tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này giữa anh H và chị C có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác.

[3] Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Anh H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Các Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dư Văn H.

  • - Về hôn nhân: Anh Dư Văn H được ly hôn với chị Lê Thị Kim C.
  • - Về con chung: Giao 02 con chung tên Dư Văn D, sinh ngày 07/6/2014 và Dư Văn T, sinh ngày 17/01/2017 cho anh H được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
  • Chị C không phải cấp dưỡng nuôi các con chung do anh H không có yêu cầu.
  • Anh H phải tạo điều kiện cho chị C được thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
  • Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Anh H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này giữa anh H và chị C có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác.
  • - Về án phí sơ thẩm: Anh Dư Văn H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012042 ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Chị Lê Thị Kim C không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Anh H và chị C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND h. Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS h. Thoại Sơn;
  • - UBND xã Định Thành;
  • - Các đương sự (Để thi hành);
  • - Lưu VP, HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Mai Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 05/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 06/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H được ly hôn với chị Ch
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger