Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG TRẠCH

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 06/2024/DS-ST

Ngày: 03/7/2024

V/v: Đòi lại tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Đình Huận
  2. Bà Đậu Thị Phú

Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thùy Linh - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch tham gia phiên toà: Ông Đàm Xuân Tân - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 04 tháng 6 và ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2024/TLST-TCDS ngày 08 tháng 01 năm 2024 về việc “Đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXX-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Y, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn T, xã Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
  • - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 04/11/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Bùi Thị Y trình bày: Vào ngày 27/8/2023, chị Y có mua của chị Á 300.000 đồng tiền thịt. Đến ngày 29/8/2023 chị Y thấy tài khoản Facebook của chị Á đăng dòng trạng thái “Em cần 10.000.000 đồng vào tài khoản, ai cần tiền mặt thì đổi cho em"

Vì chị Y và chị Á quen biết đã lâu và là bạn hàng của nhau nên khi thấy chị Á đăng dòng trạng thái như trên, chị Y đã chuyển cho chị Á số tiền 10.300.000 đồng vào số tài khoản 1023030542, Ngân hàng V, tên chủ tài khoản là Nguyễn Thị Ngọc Á (trong đó 300.000 đồng là tiền trả nợ tiền mà tôi đã mua thịt và 10.000.000 đồng là tiền mà chị Y cho chị Á mượn như ở dòng trạng thái trên)

Ngày 31/8/2023, chị Y đã nhắn tin đòi tiền ở Zalo tài khoản Ngọc Á, chị Á đã xem nhưng không trả lời.

Ngày 03/9/2023, chị Y có nhắn tin vào tài khoản Facebook mang tên Ánh N yêu cầu chị Á trả tiền nhưng chị Á trả lời là trong tài khoản của chị Á chỉ có 2.000.000 đồng nên không đủ tiền trả.

Ngày 12/9/2023, chị Y tiếp tục yêu cầu chị Á trả tiền nhưng chị Á trả lời là chị Á đã chuyển số tiền trên cho người khác nên chị Á không trả cho chị Y.

Nay chị Y yêu cầu chị Á phải trả cho chị Y số tiền 10.000.000 đồng mà chị Y đã chuyển qua cho chị Á.

Tại bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Á trình bày:

Vào ngày 29/8/2023 chị Á có đăng 01 dòng trạng thái lên Facebook cá nhân của chị Á là: “ Cần mười triệu vào tài khoản ai có đổi cho tôi”

Chị Bùi Y có vào bình luận trên bài “Tiền cháu mấy đó thím” thì chị Á không trả lời lại. Sau đó khoảng 02 tiếng sau chị Á thấy có 01 Zalo B và có hình đại diện của chị Y nhắn tin đến hỏi chị Á là: “Thím ơi tiền thịt của cháu mấy đó để cháu chuyển khoản” thì chị Á trả lời “300k bẹp nạ” thì chị Y trả lời “Dạ”.

Sau đó chị Y chuyển khoản cho chị Á số tiền 10.300.000 đồng, chị Á chưa nói gì thì một tài khoản Zalo mang tên Bùi Y tiếp tục nhắn tin cho chị Á là: “Cháu trả 300k tiền thịt cho thím còn mười triệu đồng nhờ thím chuyển khoản lại stk này cho cháu với 1028780140 Huỳnh Hải T, nếu thím chuyển được thì chụp bill gửi cho cháu với chứ sáng giờ cháu với người này bị lỗi ngân hàng sao không chuyển khoản được”. Chị Á trả lời nói lại “không thím vẫn chuyển khoản được bình thường”. Sau đó khoảng 4 phút theo số tài khoản của chị Y cung cấp chị Á đã chuyển khoản cho số tài khoản Huỳnh Hải T số tiền 10.000.000 đồng và chụp B gửi lại cho chị Bùi Y thì chị Z bùi Y có trả lời lại là “Họ nhận được rồi thím”. Sau đó vài ngày chị Y lại đòi chị Á số tiền trên, khi đó chị Á xem lại đoạn tin nhắn zalo mà chị Y nhắn tin cho chị Á yêu cầu chị Á chuyển cho tài khoản Huỳnh Hải T thì phát hiện tài khoản zalo Bùi Y đó đã bị khoá nên hiện nay đoạn tin nhắn đó không còn nữa.

Chị Nguyễn Thị Ngọc Á thừa nhận là mình đã nhận từ tài khoản của chị Y số tiền 10.000.000 đồng, tuy nhiên chị Á trình bày, số tiền này chị Á đã chuyển qua cho người khác tên là Huỳnh Hải T theo yêu cầu của chị Y.

Nay chị Y yêu cầu chị Á trả lại số tiền 10.000.000 đồng thì chị Á không đồng ý vì chị Á đã chuyển qua cho người khác theo yêu cầu của chị Y.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng đã tuân theo pháp luật tố tụng. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 3 Điều 278, Khoản 1 Điều 351 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngà30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Y, buộc chị Nguyễn Thị Ngọc Á phải có nghĩa vụ trả cho chị Bùi Thị Y số tiền nợ là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng). Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Ngọc Á phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) để sung vào công quỹ nhà nước. Trả lại cho chị Bùi Thị Y số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002060 ngày 05/01/2024.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Á hiện nay đang cư trú tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình và theo đơn khởi kiện của chị Bùi Thị Y thông qua giao dịch dân sự nên xác định đây là tranh chấp Đòi lại tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch theo quy định tại các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp, yêu cầu của đương sự: Theo yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của các đương sự và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Theo dòng trạng thái của bị đơn: “Em cần 10.000.000 đồng vào tài khoản, ai cần tiền mặt thì đổi cho em” thì nguyên đơn đã thực hiện việc chuyển số tiền 10.000.000 đồng trên cho bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn cũng đã thừa nhận đã nhận của nguyên đơn số tiền 10.000.000 đồng. Như vậy, giữa nguyên đơn và bị đơn đã phát sinh giao dịch dân sự thông qua việc chuyển tiền nói trên, giao dịch dân sự giữa hai bên có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật, các bên tham gia giao dịch dân sự đều có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự và việc tham gia vào giao dịch dân sự này hoàn toàn tự nguyện vì vậy làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Chị Nguyễn Thị Ngọc Á thừa nhận thừa nhận đã nhận số tiền 10.000.000 đồng từ chị Bùi Thị Y chuyển vào tài khoản 1023030542, Ngân hàng V, tên chủ tài khoản là Nguyễn Thị Ngọc Á, nhưng cho rằng mình đã chuyển số tiền trên cho một người khác theo yêu cầu của chị Bùi Thị Y nên không chấp nhận yêu cầu của chị Y. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án chị Á không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh chị Y yêu cầu chị Á chuyển số tiền đó cho bên thứ ba. Chứng cứ mà chị Á cung cấp là các đoạn tin nhắn Zalo giữa hai bên, tuy nhiên nội dung tin nhắn không thể hiện việc nguyên đơn chị Bùi Thị Y yêu cầu chị Nguyễn Thị Ngọc Á chuyển số tiền 10.000.000 đồng cho một người khác. Mặt khác bị đơn cho rằng Z mang tên Bùi Y yêu cầu bị đơn chuyển tiền cho một người khác đã bị hack, tuy nhiên bị đơn không thể chứng minh được sự kiện nói trên.

Như vậy, giao dịch dân sự giữa hai bên có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Quá trình thực hiện, chị Y đã nhiều lần yêu cầu chị Á thực hiện nghĩa vụ dân sự nhưng chị Á đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên phát sinh tranh chấp. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền đã giao dịch là 10.000.000 đồng là phù hợp quy định tại các Điều 116, 117, 119, 274, 278 và Điều 351 của Bộ luật dân sự .

[3] Về lãi suất: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất đối với số tiền các bên đã giao dịch, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật lãi suất chậm trả được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp, bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự/

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản Điều 39, các Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 116, 117, 119, 274, 278, 351 và Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Y, buộc chị Nguyễn Thị Ngọc Á phải có nghĩa vụ trả cho chị Bùi Thị Y số tiền nợ là 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
  2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

  3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Ngọc Á phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) để sung vào công quỹ nhà nước.
  4. Trả lại cho chị Bùi Thị Y số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002060 ngày 05/01/2024.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 03/7/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND huyện Quảng Trạch;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Trạch;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Nguyễn Ngọc Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/DS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về đòi lại tài sản

  • Số bản án: 06/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Y kiện đòi tài sản chị A
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger