TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2024/KDTM-PT Ngày 03 - 5 - 2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Huy Cẩn và bà Phạm Thị Thuý Mai.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc: Bà Nguyễn Thị Đào Hoa - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 25 tháng 3 và ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại phúc thẩm thụ lý số 08/2023/TLPT-KDTM ngày 24 tháng 10 năm 2023.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2023/KDTM-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 108/2023/QĐ-PT ngày 07 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng N3;
Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Trung D - Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N3 - Chi nhánh thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; địa chỉ: Đường H, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc là đại diện theo uỷ quyền lại (Theo các Văn bản ủy quyền số 510/QĐ/HĐTV-PC ngày 19/6/2014 của Chủ tịch Hội đồng thành viên A và số 510/GUQ-NHNo.VPII-KSNB ngày 10/5/2018 của Giám đốc Ngân hàng N3 - Chi nhánh thành phố V), (có mặt).
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần T8
Địa chỉ: Đường E, phố C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn B - Chức vụ: Giám đốc là đại diện theo pháp luật; địa chỉ: thôn D, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, (Vắng mặt).
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1969 và ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1965; người đại diện hợp pháp của ông C: Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1969 là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 26/3/2019); đều có địa chỉ: Số nhà A, phố C, xóm V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, ( Có mặt).
3.2. Ông Lê Tất T, sinh năm 1977 và bà Hoàng Thị Thanh N, sinh năm 1979; đều có địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
3.3. Ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1966; đều có địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện hợp pháp của ông T1, bà N1: Anh Nguyễn Tiến T2, sinh năm 1989 là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 25/11/2019); địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1: Ông Đặng Văn C1 - Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ liên hệ: Số nhà A, tòa nhà N P, KĐT Đoàn N, phường X, quận B, thành phố Hà Nội ,(Có mặt).
3.4. Ông Đỗ Tiến Đ (Đỗ Đ), sinh năm 1942 và anh Đỗ Minh T3, sinh năm 1978; người đại diện hợp pháp của ông Đ: Anh Đỗ Minh T3, sinh năm 1978 là đại diện theo ủy quyền; đều có địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, (Vắng mặt ngày 25/3/2024, có mặt ngày 03/5/2024).
4. Người kháng cáo: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức T1, bà Đỗ Thị L và ông Đỗ Tiến Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Trung D trình bày:
Ngày 10/02/2011, Ngân hàng N3 (viết tắt là Ngân hàng N4) Bắc V nay đổi tên là Ngân hàng N4 - Chi nhánh thành phố V ký hợp đồng tín dụng số 88/HĐTD với Công ty Cổ phần T8 (sau đây viết tắt là Công ty CP T8), theo đó Ngân hàng N3 cho Công ty vay vốn kinh doanh với hạn mức tín dụng 2.900.000.000đồng, thời hạn của hạn mức: 12 tháng; mục đích vay: Kinh doanh vật liệu xây dựng; thi công xây lắp công trình; lãi suất vay tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng: 18.5%/năm. Ngày 05/09/2011 N5 ký phụ lục hợp đồng tín dụng số 01- 2011/PLHĐ với Công ty CP T8 để giảm hạn mức tiền vay của Công ty CP T8 xuống còn 2.070.000.000 đồng.
Hạn mức tiền vay được đảm bảo bằng tài sản là 04 quyền sử dụng đất và tài sản trên đất gồm:
- Tài sản thứ nhất là Quyền sử dụng đối với thửa đất số 358, tờ bản đồ số 08, diện tích 92m² đất ở tại Chùa H7, Đ, V, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên hộ bà Đỗ Thị L được Ủy ban nhân dân thị xã V (nay là thành phố V) cấp giấy chứng nhận ngày 04/7/2003 và tài sản trên đất, theo hợp đồng thế chấp tài sản số 670 ngày 09/02/2009; bảo đảm cho khoản vay: 800.000.000đồng.
- Tài sản thứ hai là Quyền sử dụng đối với thửa đất số 373, tờ bản đồ số 01, diện tích 165m² đất ở tại Đ, T, Y, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên hộ ông Lê Tất T được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận ngày 04/5/2004 và tài sản trên đất, theo hợp đồng thế chấp tài sản số 672 ngày 09/02/2009; bảo đảm cho khoản vay: 800.000.000đồng.
- Tài sản thứ ba là Quyền sử dụng đối với thửa đất số 402, tờ bản đồ số 01, diện tích 200m² đất ở tại Đ, T, Y, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên ông Nguyễn Đức T4 được Ủy ban nhân dân huyện V (nay là huyện Y) cấp giấy chứng nhận ngày 25/02/1993 và tài sản trên đất, theo hợp đồng thế chấp tài sản số 673 ngày 09/02/2009; bảo đảm cho khoản vay: 350.000.000đồng.
- Tài sản thứ tư là là Quyền sử dụng đối với thửa đất số 10, tờ bản đồ số 09A, diện tích 1.060m² đất ở tại số H, K, T, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên ông Đỗ Tiến Đ được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận ngày 17/01/1994 và tài sản trên đất, theo hợp đồng bảo lãnh tài sản số 703 ngày 17/3/2009; bảo đảm cho khoản vay: 400.000.000đồng.
Tính đến hết ngày 28/7/2023, Công ty CP T8 còn nợ N6 số tiền gốc là: 1.985.000.000đồng (một tỷ, chín trăm tám lăm triệu đồng chẵn) của các lần nhận nợ, theo 03 giấy nhận nợ gồm: Giấy nhận nợ kèm phụ lục ngày 20/10/2011 là 370.000.000đồng; Giấy nhận nợ kèm phụ lục ngày 20/10/2011 là 470.000.000đồng, đã trả 50.000.000đồng, còn dư nợ 420.000.000đồng; Giấy nhận nợ kèm phụ lục ngày 30/11/2011 là 1.195.000.000đồng.
Ngân hàng N3 đã nhiều lần đôn đốc trả nợ, Công ty CP T8 cũng đã nhiều lần cam kết trả nợ, nhưng đến nay vẫn không trả nợ. Vì vậy, Ngân hàng N3 khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết buộc Công ty CP T8 phải trả toàn bộ số tiền tiền gốc, tiền lãi tạm tính đến hết ngày 28/7/2023 cho NHNN&PTNT Việt Nam là: 6.535.600.059 đồng, trong đó: Số tiền gốc: 1.985.000.000 đồng; Số tiền lãi: 4.550.600.059 đồng và toàn bộ tiền lãi phát sinh kể từ ngày 29/7/2023 cho đến khi trả Công ty trả hết khoản nợ vay cho NHNN&PTNT Việt Nam.
Trường hợp Công ty CP T8 không trả được hoặc trả không đầy đủ khoản nợ và lãi trên cho Ngân hàng N3, đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại, xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật. Ngân hàng N3 chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết đối với các tài sản thế chấp, bảo lãnh là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với diện tích đất có trong các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu việc phát mại tài sản không đủ để trả nợ, Ngân hàng N3 đề nghị Công ty CP T8 phải tiếp tục thanh toán nợ cho Ngân hàng N3 cho đến khi thanh toán xong.
Đối với lãi suất chậm trả, các phí phát sinh liên quan, N6 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Công ty CP T8 vắng mặt tại phiên tòa, quá trình tố tụng trình bày:
Thừa nhận lời khai của Ngân hàng N3 về việc vay tiền, số tiền vay, thời hạn, lãi suất và việc bên thứ ba là vợ chồng bà Đỗ Thị L và ông Nguyễn Thành C; vợ chồng ông Lê Tất T và bà Hoàng Thị Thanh N; vợ chồng ông ông Nguyễn Đức T1 và bà Nguyễn Thị N1; ông Đỗ Tiến Đ và con trai là anh Đỗ Minh T3 thế chấp, bảo lãnh tài sản bằng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất khi bị đơn vay tiền là đúng. Do điều kiện khó khăn nên Công ty không thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng. Đề nghị N6 miễn giảm toàn bộ số tiền lãi. Công ty cam kết sẽ trả toàn bộ số tiền gốc là 1.985.000.000,đồng; thời gian trả là trả dần trong 05 năm; mỗi năm trả 400.000.000 đồng; năm cuối cùng trả 385.000.000 đồng; trả vào ngày 01 tháng 5 hàng năm. Trường hợp Công ty vi phạm thời hạn nghĩa vụ trả nợ, Công ty đồng ý để Ngân hàng N3 đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản đã thế chấp (theo hợp đồng thế chấp, bảo lãnh) để Ngân hàng N3 thu hồi nợ. Nếu việc phát mại tài sản thế chấp không đủ trả nợ, Công ty có trách nhiệm tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng N3 cho đến khi trả hết nợ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị L đồng thời là người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Thành C trình bày: Bà xác nhận việc thế chấp tài sản cho khoản vay của Công ty CP T8 tại Ngân hàng N3. Đối với yêu cầu của Ngân hàng N3, bà đề nghị Ngân hàng N3 tạo điều kiện miễn giảm toàn bộ tiền lãi, để Công ty trả tiền gốc, cho gia đình bà rút lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trường hợp Công ty không thanh toán được hay thanh toán không đầy đủ, bà đồng ý phát mại tài sản đảm bảo để Công ty trả nợ cho Ngân hàng N3.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tiến T2 đồng thời là người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Đức T1 và bà Nguyễn Thị N1 trình bày: Xác nhận năm 2006 do có mối quan hệ cậu cháu với anh Lê Tất T, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP T8, ông bà Thinh, N1 có cho Công ty CP T8 mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng N3 Đầu tư, thời hạn 01 năm, việc công ty ký kết vay vốn thế nào ông bà không biết. Sau khi hết 01 năm vợ chồng ông T1, bà N1 đã nhiều lần yêu cầu anh T trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng anh T không trả. Đến năm 2018 đến khi Tòa án thụ lý đơn của Ngân hàng N3 lúc đó vợ chồng ông bà mới biết Công ty CP T8 thế chấp Giấy CNQSD đất tại Ngân hàng N3 nông nghiệp và sau khi lên làm việc tôi mới biết Giấy CNQSD đất bị nhầm tên giữa Nguyễn Đức T1 và Nguyễn Đức T4. Ông bà khẳng định ông bà chỉ ký vào hợp đồng thế chấp đảm bảo khoản vay của Công ty tại Ngân hàng N3 đầu tư năm 2006; ông bà không biết hợp đồng thế chấp bảo đảm cho Công ty T9 – Chi nhánh B, tuy nhiên chữ ký N1, Nguyễn Thị N1 và chữ ký T1, Nguyễn Đức T1 trong hợp đồng thế chấp số 673 ngày 09/02/2009 là của ông T1 và bà N1.
Đề nghị tuyên bố hợp đồng thế chấp số 673 ngày 09/02/2009 vô hiệu, vì: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyễn Đức T4 không phải Nguyễn Đức T1; thời điểm ký hợp đồng thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa xóa thế chấp tại Ngân hàng N3 TMCP đầu tư và phát triển; hợp đồng thế chấp số 673 ngày 09/02/2009 không ký nháy từng trang, chỉ có chữ ký của ông T1 và bà N1 ở trang cuối hợp đồng; Sổ tiếp nhận hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm và hồ sơ lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 11/02/2009 không có trường hợp ông Nguyễn Đức T1 đến chứng thực hợp đồng và không có sổ theo dõi số 01/TP-CC-SCT/HĐTC, như ở trong trang chứng thực của hợp đồng thế chấp số 673 ngày 09/02/2009. Ngoài ra Ngân hàng N3 đã chuyển khoản nợ của Công ty CP T8 sang khoản nợ quá hạn từ ngày 20/7/2012, theo quy định Bộ luật dân sự quy định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm. Đến ngày 26/8/2018 Ngân hàng N3 khởi kiện đã quá 03 năm, do vậy đã hết thời hiệu khởi kiện, trường hợp này Ngân hàng N3 chỉ có quyền khởi kiện kiện đòi tài sản đối với khoản tiền cho vay là tiền gốc, không có quyền khởi kiện đòi khoản tiền lãi suất.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Minh T3 đồng thời là người đại diện hợp pháp của ông Đỗ Tiến Đ trình bày: Xác nhận việc thế chấp tài sản bảo lãnh cho khoản vay của Công ty CP T8 tại Ngân hàng N3. Đối với yêu cầu của Ngân hàng N3, anh T3 đề nghị Công ty CP T8 trả nợ các khoản vay nợ gốc và lãi của Công ty. Quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ, anh T3 đã trả cho Ngân hàng N3 số tiền 30.000.000đ, tuy nhiên không có tài liệu nào xác nhận việc này, đối với số tiền tiền còn lại 370.000.000đ, anh đề nghị Ngân hàng N3 để gia đình anh nộp thay cho Công ty, để gia đình anh rút lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Lê Tất T và vợ là chị Hoàng Thị Thanh N trình bày: Xác nhận việc gia đình anh T, chị N cũng như vợ chồng bà Đỗ Thị L và ông Nguyễn Thành C; vợ chồng ông Nguyễn Đức T1 và bà Nguyễn Thị N1; ông Đỗ Tiến Đ và con trai là anh Đỗ Minh T3 thế chấp, bảo lãnh tài sản bằng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất cho Công ty CP T8 vay tiền là đúng. Nếu Công ty CP T8 không trả được nợ thì đề nghị Ngân hàng N3 miễn giảm toàn bộ lãi, để gia đình anh và gia đình bà oan và ông C; ông T1 và bà N1; ông Đ và anh Đỗ Minh T3 trả tiền gốc, tạo điều kiện cho các gia đình rút lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu Ngân hàng N3 đồng ý các gia đình sẽ thu xếp trả tiền gốc trong thời gian đến ngày 30/8/2023. Trường hợp Ngân hàng N3 không đồng ý và Công ty không trả được nợ đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Với nội dung như trên, tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2023/KDTM-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định: Căn cứ Điều 26, khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sư; các điều 122, 124, 318, 319, 323, 342, 343, 355, 361, 362, 369, 471, 474, 476, 715, 716, 717 và 719 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các điều 157, 429, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 16 Điều 4, các điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 01/2019/NQ - HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; các điều 11, 13, 24 và 25 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N3 Nhà nước; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về áp phí, lệ phí Tòa án; Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N3.
Buộc Công ty CP T8 phải có nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng N3 số tiền gốc, tiền lãi tính đến hết ngày 28/7/2023 là: 6.535.600.059 đồng, trong đó: tiền gốc là 1.985.000.000 đồng; tiền lãi là 4.550.600.059 đồng (lãi trong hạn: 3.122.190.942 đồng, lãi quá hạn: 1.428.409.117 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 29/7/2023) cho đến khi thi hành án xong, Công ty CP T8 còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quá hạn trên nợ gốc mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số số 88/HĐTD ngày 10/02/2011 và Phụ lục hợp đồng tín dụng số 01- 2011/PLHĐ ngày E (nay là chi nhánh thành phố V) giữa Ngân hàng N3, chi nhánh B (nay là chi nhánh thành phố V) với Công ty CP T8 cho đến khi thanh toán hết nợ (Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng N3 cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng N3 cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng N3 cho vay).
2. Về xử lý tài sản thế chấp: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty CP T8 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên cho Ngân hàng N3. Ngân hàng N3 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp, bảo lãnh trong phạm vi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo thu hồi nợ, gồm:
- Quyền sử dụng diện tích đất 95,1 m² theo các điểm 6, 5, 4, 3, 2, 10, 9, 6 và toàn bộ tài sản gắn liền với đất (theo sơ đồ kèm theo) địa chỉ phố C, xã Đ (nay là phường Đ), thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc tại thửa đất số 358 (nay là thửa 443), tờ bản đồ số 08 (nay là tờ bản đồ số 31), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 490207, do Ủy ban nhân dân thị xã V (nay là thành phố V) cấp ngày 04/7/2003 cho hộ bà Đỗ Thị L. Nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn và chi phí phát sinh khác liên quan - nếu có. Phạm vi bảo đảm cho khoản dư nợ gốc là 800.000.000 đồng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 670 ngày 09/02/2009 đã ký giữa bà Đỗ Thị L, ông Nguyễn Thành C và Ngân hàng N3.
Đối với diện tích đất 2,4m² phía trước giáp đường giao thông, bà L và ông C đang sử dụng nằm ngoài diện tích đất hộ bà L được giao, khi nào Nhà nước thu hồi chủ sử dụng đất phải chấp hành quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
(Có sơ đồ chi tiết kèm theo)
- Quyền sử dụng diện tích đất 200m² theo các điểm 4, 5, 6, 7, 8, 9, 3A, 4 và toàn bộ tài sản gắn liền với đất, địa chỉ khu Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc do ông Nguyễn Đức T1 và bà Nguyễn Thị N1 đang quản lý sử dụng thuộc thửa đất số 402 (nay là thửa 340), tờ bản đồ số 01 (nay là tờ bản đồ số 12) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B928786, do Ủy ban nhân dân huyện V (nay là huyện Y) cấp ngày 25/02/1993 cho ông Nguyễn Đức T4. Nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn và chi phí phát sinh khác liên quan - nếu có. Phạm vi bảo đảm cho khoản dư nợ gốc là 350.000.000 đồng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 673 ngày 09/02/2009 đã ký giữa ông Nguyễn Đức T1, bà Nguyễn Thị N1 và Ngân hàng N3.
Đối với diện tích đất 43,3m², vị trí tiếp giáp đường trục thôn, ông T1 và bà N1 đang sử dụng nằm ngoài diện tích đất được giao, khi nào Nhà nước thu hồi chủ sử dụng đất phải chấp hành quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
(Có sơ đồ chi tiết kèm theo)
Kiến nghị Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh Y điều chỉnh lại tên chủ sử dụng đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ Nguyễn Đức T4 sang Nguyễn Đức T1 và điều chỉnh số thửa đất theo hồ sơ quản lý đất đai.
- Quyền sử dụng diện tích đất 165m² theo các điểm 4A, 3, 6A, 6, 5A, 5, 4A và toàn bộ tài sản gắn liền với đất, địa chỉ khu Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc tại thửa đất số 373 (nay là thửa 250), tờ bản đồ số 01 (nay là tờ bản đồ số 16), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 924728, do Ủy ban nhân dân huyện Y cấp ngày 04/5/2004 cho hộ ông Lê Tất T. Nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn và chi phí phát sinh khác liên quan - nếu có. Phạm vi bảo đảm cho khoản dư nợ gốc là 800.000.000đồng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 672 ngày 09/02/2009 đã ký giữa ông Lê Tất T, bà Hoàng Thị Thanh N và Ngân hàng N3.
Đối với diện tích đất 39,1m², vị trí nằm phía sau khu mộ tổ, ông T, bà N đang sử dụng nằm ngoài diện tích đất được giao, khi nào Nhà nước thu hồi chủ sử dụng đất phải chấp hành quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
(Có sơ đồ chi tiết kèm theo)
- Quyền sử dụng diện tích đất 1.131m² và toàn bộ tài sản gắn liền với đất (theo sơ đồ kèm theo) địa chỉ phố S, xã K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc tại thửa đất số 10 (nay là thửa 184), tờ bản đồ số 09 (nay là tờ bản đồ số 43), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D0114477, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 17/01/1994 cho ông Đỗ Tiến Đ. Nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn và chi phí phát sinh khác liên quan - nếu có. Phạm vi bảo đảm cho khoản dư nợ gốc là 400.000.000 đồng theo Hợp đồng bảo lãnh quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 703 ngày 17/03/2009 đã ký giữa ông Đỗ Đ (Đỗ Tiến Đ) và Ngân hàng N3. Sau khi phát mại, ông Đỗ Tiến Đ (Đỗ Đ) được trả lại giá trị quyền sử dụng 71m² đất tăng thêm tại thời điểm phát mại.
2. Về án phí:
Công ty CP T8 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 114.535.600đồng (Một trăm mười bốn triệu, năm trăm ba mươi lăm nghìn, sáu trăm đồng).
Ngân hàng N3 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả lại Ngân hàng N3 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 55.500.000đồng (Năm mươi lăm triệu, năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: 0004411 ngày 22/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Ông Nguyễn Đức T1, bà Đỗ Thị L và ông Đỗ Tiến Đ mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 2.000.000 đồng mỗi người đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí phúc thẩm số 0001205 (do bà L nộp thay ông T1), số 0001204 (do bà L nộp thay anh T3 người được ông Đ uỷ quyền) và số 0001200 đều ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Hoàn trả ông T1, bà L và ông Đ mỗi người 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 06/2024/KDTM-PT ngày 03/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 06/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
