Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – HÀ TĨNH

Bản án số: 06/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 01 - 2026
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thông.

2. Các Hội đồng thẩm nhân dân: Ông Bùi Đình Sỹ và ông Ngô Đăng Ký.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Tâm – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 87/2025/TLST- HNGĐ, ngày 04 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2025/QĐXX - HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh ngày 07/10/1995, số CCCD: [...], địa chỉ: Thôn P, xã C, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Phan Đình D, sinh ngày 02/10/1989, số CCCD: [...]. Nơi ĐKNKTT: Thôn P, xã C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện tại đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc không rõ địa chỉ; vắng mặt lần thứ hai.
  3. Người tham gia tố tụng khác: Ông Phan Xuân T, sinh năm: 1954, địa chỉ: Thôn P, xã C, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L và anh Phan Đình D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện vào ngày 19/11/2014 tại UBND xã C , huyện N (nay là xã C), tỉnh Hà Tĩnh. Sau kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ chồng ở thôn P, xã C, tỉnh Hà Tĩnh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một năm thì anh D đi xuất khẩu lao động tại nước Hàn Quốc đến nay chưa về Việt Nam, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, thời gian sau này do vợ chồng sống xa nhau nên phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, cách nhìn nhận cuộc sống không hợp nhau. Hiện nay chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị L yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phan Đình D.

- Về con chung và cấp dưỡng: Vợ chồng có một con chung Phan Trần Mỹ D1, sinh ngày 28/9/2015. Chị Trần Thị L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con và không yêu cầu anh Phan Đình D cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Phan Đình D, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác và đã trực tiếp tống đạt cho người thân thích của anh D biết việc chị L nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn đối với anh. Tại biên bản làm việc ngày 10/12/2025 với ông Phan Xuân T là cha đẻ anh D và được ông T cho biết ông đã thông tin cho anh D biết việc Tòa án thụ lý yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh. Tại biên bản làm việc ngày 10/12/2025 thông qua ứng dụng Messenger có sự chứng kiến của ông Phan Xuân T. Anh Phan Đình D trình bày quan điểm về vụ án:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Đình D đồng ý ly hôn với chị Trần Thị L.
  • - Về con chung và cấp dưỡng: Vợ chồng có một con chung Phan Trần Mỹ D1, sinh ngày 28/9/2015. Vì hiện nay anh đang đi làm ăn xa nên anh D đồng ý giao con cho chị Trần Thị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con, việc cấp dưỡng nuôi anh tự có trách nhiệm với con không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự; phân tích nội dung vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 4 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a và b khoản 1 Điều 238, Điều 464, điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, Điều 70, khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, khoản 2 Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U, đề nghị:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị L được ly hôn anh Phan Đình D.
  • - Về con chung và cấp dưỡng: Giao con chung Phan Trần Mỹ D1, sinh ngày 28/9/2015 cho chị Trần Thị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chị Trần Thị L không yêu cầu anh Phan Đình D cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.
  • - Về tài sản sản và khoản nợ: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
  • - Về án phí: Chị Trần Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp về “Hôn nhân và gia đình” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn anh Phan Đình D, sinh ngày 02/10/1989. Nơi ĐKNKTT trước khi xuất cảnh: Thôn P, xã C, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị L trình bày hiện nay bị đơn anh Phan Đình D đang lao động tại Hàn Quốc nhưng không rõ địa chỉ cụ thể. Vì vậy, Tòa án đã đề nghị Phòng quản lý Xuất nhập cảnh Công an tỉnh H cung cấp thông tin xuất nhập cảnh về anh D và tại Công văn số 1562/QLXNC – Đ1, ngày 11/11/2025 của Phòng Q - Công an tỉnh H xác nhận anh Phan Đình D, sinh ngày 02/10/1989, số định danh cá nhân: 042089013082, đã xuất cảnh vào ngày 30/06/2018 và hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành buổi tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng nguyên đơn có đơn đề nghị không hòa giải, còn bị đơn đang đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a và b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L và anh Phan Đình D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện vào ngày 19/11/2014 tại UBND xã C , huyện N (nay là xã C), tỉnh Hà Tĩnh. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh D là hợp pháp.

Xét về tình cảm vợ chồng hiện nay giữa chị Trần Thị L và anh Phan Đình D thấy rằng: Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, cách nhìn nhận về cuộc sống không phù hợp nhau, vợ chồng thường xuyên tranh cãi và đến nay không còn quan tâm, liên lạc gì với nhau. Chị L làm đơn ly hôn, anh D đồng ý ly hôn. Điều đó chứng tỏ vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân gia đình xử cho chị Trần Thị L được ly hôn anh Phan Đình D.

[2.2]. Về con chung và cấp dưỡng: Quá trình chung sống, chị Trần Thị L và anh Phan Đình D có 01 con chung Phan Trần Mỹ D1, sinh ngày 28/9/2015 và hiện nay đang sinh sống cùng chị L. Chị Trần Thị L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con và không yêu cầu anh Phan Đình D cấp dưỡng nuôi con. Còn anh D đang đi làm ăn xa nên anh D đồng ý giao con cho chị Trần Thị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Xét thấy việc thỏa thuận nuôi con của chị L và anh D là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, đảm bảo sự phát triển bình thường của con chung Phan Trần Mỹ D1, nguyện vọng của con được ở với chị L; vì vậy cần ghi nhận sự thỏa thuận này của chị L và anh D.

Về cấp dưỡng nuôi con chị L và anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Trần Thị L là nguyên đơn trong vụ án hôn nhân gia đình nên phải nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về căn cứ pháp lý: Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 4 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a và b khoản 1 Điều 238, Điều 464, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, Điều 70, khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, khoản 2 Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị L được ly hôn anh Phan Đình D.

3. Về quan hệ con chung: Giao con chung Phan Trần Mỹ D1, sinh ngày 28/9/2015 cho chị Trần Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Phan Đình D không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

4. Về án phí: Chị Trần Thị L phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này chị Trần Thị L đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0000453 ngày 04/11/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Trần Thị L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án; bị đơn anh Phan Đình D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh Hà Tĩnh;
- VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
- VKSNDKV3- Hà Tĩnh;
- Các đương sự;
- THADS tỉnh Hà Tĩnh;
- UBND UBND xã Cổ Đạm;
- Lưu HSVA, văn thư.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Hoàng Trung Thông
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2026/HNGĐ-ST ngày 06/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 06/2026/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị L xin ly hôn anh Phan Đình D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger