|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2025/TCDS-ST
Ngày 15 - 4 - 2025
V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Vinh
- Ông Hoàng Thanh Diện
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Lý - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 78/2024/TLST-TCDS ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-TCDS ngày 10/3/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K.
- Ông Nguyễn Hữu Tiến A1 – Cán bộ xử lý nợ thuộc Ngân hàng TMCP K
- Bà Phạm Thị C - Cán bộ xử lý nợ thuộc Ngân hàng TMCP K
Địa chỉ: Số F Q, phường T, quận H, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Hùng A - Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền:
Bà Phạm Thị N - Giám đốc xử lý nợ thuộc khối quản trị rủi ro
Người được ủy quyền lại:
Cùng địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà V, số A T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.
2
- Bị đơn: Ông Ma Thanh H, sinh năm 1964 và bà Trần Thị H1, sinh năm 1972
Cùng trú tại: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.
Tại phiên toà, đại diện Nguyên đơn có mặt, Bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung Đơn khởi kiện đề ngày 24/9/2024, Bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện cho nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần K (sau đây được viết tắt là T2) và ông Ma Thanh H, bà Trần Thị H1 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số HTH202291355802/HDTD; Đề nghị giải nhân kiêm khế ước nhận nợ số HTH202291355802/01 ngày 28/4/2022 để vay và rút vốn với số tiền 11.894.400.000 đồng; thời hạn vay là 300 tháng; nhằm mục đích thanh toán tiền mua bất động sản tại Dự án KĐT Bảo Ninh 2 căn số BT26. Lãi suất vay được chia thành hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Áp dụng lãi suất cố định 7,3%/năm trong thời gian 12 tháng kể từ ngày nhận nợ;
Giai đoạn 2: Áp dụng lãi suất thả nổi bằng lãi suất cơ sở chuẩn dài hạn (+) biên độ 3,5%/năm nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu được T2 quy định theo từng thời kỳ tương ứng với đối tượng khách hàng. Lãi suất vay thả nổi được điều chỉnh 01 tháng một lần vào các ngày 15 hàng tháng theo thông báo của T2 từng thời kỳ.
Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của mình, ông H và bà H1 đã cam kết dùng tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và nhà ở tại lô đất BT 26 (theo quy hoạch: BT7.10), phân khu (ô đất) Ngọc T (theo quy hoạch: BT7) thuộc khu đô thị B, xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Hợp đồng mua bán nhà ở số BT26/HĐMB/BN2/MKG ngày 12/4/2022 giữa Công ty cổ phần T3 và bà Trần Thị H1. Theo Hợp đồng thế chấp số HTH202291355802/HDTC ký ngày 15/5/2022 giữa bà Trần Thị H1, ông Ma Thanh H với Ngân hàng T2
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H và bà H1 đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết.
Hiện tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 15/4/2025), ông H, bà H1 còn nợ Ngân hàng T2 số tiền là 8.550.825.316 đồng (Tám tỷ năm trăm năm mươi triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn ba trăm mười sáu đồng). Trong đó: nợ gốc 8.517.571.783 (Tám tỷ năm trăm mười bảy triệu năm trăm bảy mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi ba đồng); nợ lãi 33.253.533₫ (Ba mươi ba triệu hai trăm năm mươi ba nghìn năm trăm ba mươi ba đồng).
3
Vì vậy, Ngân hàng T2 khởi kiện đến Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn yêu cầu buộc ông H, bà H1 phải thanh toán cho Ngân hàng T2 toàn bộ số tiền nợ nói trên và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 16/4/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ vay cho Ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ đã ký kết. Trường hợp ông H, bà H1 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng T2 có quyền yêu cầu cơ quan có Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi toàn bộ số nợ cho ngân hàng. Trường hợp sau khi xử lý hết tài sản bảo đảm mà vẫn không thu đủ nợ cho Ngân hàng thì ông H, bà H1 còn phải có trách nhiệm tiếp tục trả nợ số tiền còn lại cho Ngân hàng.
Về phía bị đơn ông Ma Thanh H và bà Trần Thị H1: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập đến hòa giải nhiều lần nhưng ông H và bà H1 đều vắng mặt không rõ lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án, nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được.
Theo kết quả xác minh tại Công an phường Q cho thấy: Ông Ma Thanh H và bà Trần Thị H1 đều có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Hiện ông H và bà H1 vẫn đều đang có mặt sinh sống tại địa phương.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn tuân thủ nghiêm chỉnh sự triệu tập của Tòa án, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Ông Ma Thanh H và bà Trần Thị H1 đã được triệu tập hợp lệ 02 lần đến tham gia phiên tòa vào các ngày 24/3/2025 và ngày 15/4/2025 nhưng ông H và bà H1 vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bị đơn ông H và bà H1.
- Về nội dung: Thấy rằng yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 116, 117, 299, 317, 319, 320, 322, 398, 401, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 147, 157, 158 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông H và bà H1 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng T2 tạm tính đến ngày 15/4/2025 với tổng số tiền là: 8.550.825.316 đồng (Tám tỷ năm trăm năm mươi triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn ba trăm mười sáu đồng). Trong đó: nợ gốc 8.517.571.783 (Tám tỷ năm trăm mười bảy triệu năm trăm bảy mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi ba đồng)
4
mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi ba đồng); nợ lãi 33.253.533đ (Ba mươi ba triệu hai trăm năm mươi ba nghìn năm trăm ba mươi ba đồng).
Trong trường hợp bị đơn không trả được nợ thì đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng T2 theo quy định của pháp luật. Buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc tự chịu tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, với số tiền 3.900.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp: Ông Ma Thanh H và bà Trần Thị H1 đã ký kết với Ngân hàng T2 Hợp đồng tín dụng số HTH202291355802/HDTD; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số HTH202291355802/01 ngày 28/4/2022 là hợp pháp, phù hợp theo quy định tại Điều 398 Bộ luật Dân sự, mục đích vay vốn để thanh toán tiền mua bất động sản. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông H và bà M đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo như thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết: Ông Ma Thanh H và bà Trần Thị H1 có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
- Về sự vắng mặt của bị đơn: Ông H và bà H1 mặc dù đã được Tòa án phối hợp cùng với Ủy ban phường Q tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập đến tham gia phiên tòa hai lần, bị đơn đã nhận các văn bản tố tụng nhưng không ký biên bản giao nhận và cũng không có mặt tại phiên tòa. Do đó, cần căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông H và bà H1 là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
- Về yêu cầu của nguyên đơn:
Theo yêu cầu khởi kiện, ý kiến trình bày của phía nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định:
Giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần K và ông Ma Thanh H, bà Trần Thị H1 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số HTH202291355802/HDTD; Đề nghị giải nhân kiêm khế ước nhận nợ số HTH202291355802/01 ngày 28/4/2022. Để bảo đảm cho
5
khoản vay này, ông H và bà H1 đã dùng tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và nhà ở tại lô đất BT 26 (theo quy hoạch: BT7.10), phân khu (ô đất) Ngọc T (theo quy hoạch: BT7) thuộc khu đô thị B, xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Ông H, bà H1 thông qua Hợp đồng mua bán nhà ở số BT26/HĐMB/BN2/MKG ngày 12/4/2022 giữa Công ty cổ phần T4 và bà Trần Thị H1. Theo Hợp đồng thế chấp số HTH202291355802/HDTC ký ngày 15/5/2022 giữa bà Trần Thị H1, ông Ma Thanh H với Ngân hàng T2. Việc ký kết các hợp đồng này giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, về hình thức và nội dung đều tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 119 của Bộ luật Dân sự nên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng.
Thực hiện Hợp đồng phía Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền vay cho ông H và bà H1, tuy nhiên phía ông H và bà H1 lại không thực hiện đúng cam kết về việc trả nợ cho ngân hàng. Theo các tài liệu, chứng cứ do phía Ngân hàng cung cấp thì tính đến ngày 15/4/2025, ông H và bà H1 còn dư nợ tại Ngân hàng T2 với tổng số tiền là 8.550.825.316 đồng (Tám tỷ năm trăm năm mươi triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn ba trăm mười sáu đồng). Trong đó: nợ gốc 8.517.571.783 (Tám tỷ năm trăm mười bảy triệu năm trăm bảy mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi ba đồng); nợ lãi 33.253.533đ (Ba mươi ba triệu hai trăm năm mươi ba nghìn năm trăm ba mươi ba đồng).
- Từ những phân tích, nhận định trên, thấy việc Ngân hàng T5 khởi kiện yêu cầu bị đơn ông H và bà H1 trả nợ tiền gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết là có cơ sở. Đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ cần được chấp nhận.
- Về chi phí tố tụng: Trong giai đoạn tố tụng, Ngân hàng T5 đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền 3.900.000 đồng; quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ đã chi phí hết; Mặc dù yêu cầu khởi kiện ủa nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Tuy nhiên, tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu bị đơn phải hoàn trả lại mà tự nguyện chịu, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông H và bà H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các
6
Điều 116, 117, 119, 299, 317, 318, 319, 320, 322, 398, 401, 463, 465, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Ma Thanh H và bà Trần Thị H1.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K. Buộc ông Ma Thanh H và Trần Thị H1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 15/4/2025 là 8.550.825.316 đồng (Tám tỷ năm trăm năm mươi triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn ba trăm mười sáu đồng). Trong đó: nợ gốc 8.517.571.783 (Tám tỷ năm trăm mười bảy triệu năm trăm bảy mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi ba đồng); nợ lãi 33.253.533đ (Ba mươi ba triệu hai trăm năm mươi ba nghìn năm trăm ba mươi ba đồng).
- Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn tự chịu số tiền chi phí tố tụng 3.900.000đ (Ba triệu chín trăm nghìn đồng).
- Về án phí:
- Buộc ông Ma Thanh H và Trần Thị H1 phải nộp 157.508.235đ (Một trăm năm mươi bảy triệu năm trăm linh tám nghìn hai trăm ba mươi lăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
Kể từ ngày 16/4/2025 trở đi, ông Ma Thanh H và bà Trần Thị H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng cho vay hạn mức, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp ông H và bà H1 không trả được toàn bộ số nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần K được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ số nợ, cụ thể: quyền sử dụng đất và nhà ở tại lô đất BT 26 (theo quy hoạch: BT7.10), phân khu (ô đất) Ngọc T (theo quy hoạch: BT7) thuộc khu đô thị B, xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Đã được Văn phòng đang ký đất đai tỉnh Quảng Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 10/9/2024, số thửa 1012, tờ bản đồ số 16, địa chỉ: thôn H, xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình mang tên ông Ma Thanh H, bà Trần Thị H1.
7
- - Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K số tiền tạm ứng án phí 59.088.000đ (Năm mươi chín triệu không trăm tám mươi tám nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003449 ngày 04/11/2024.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Đối với người có mặt) và trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định (Đối với người vắng mặt)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hữu Tình |
Bản án số 06/2025/TCDS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 06/2025/TCDS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam-Ông Ma Thanh Hải và bà Trần Thị Hồng
