|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST Ngày 24 - 02 - 2025 “V/v Ly hôn có yếu tố nước ngoài” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh và ông Nguyễn Lê Kiên.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Ánh Nguyệt - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Vân, Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2024/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn có yếu tố nước ngoài”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 08/01/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1981;
Nơi đăng ký HKTT: Thôn P, xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Nơi ở hiện nay: Tầng A, số A đường K, quận Đ, thành phố Đ, Đài Loan. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1999 và ông Trần Mạnh C1, sinh năm 2003; Cùng địa chỉ: Công ty L và cộng sự, số I T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. (ĐT: 0359.578.xxx). (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1972.
Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: Thôn P, xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin giải quyết vắng mặt, nguyên đơn chị Nguyễn Thị C trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu, đăng ký kết hôn hợp pháp ngày 20/11/1998 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang và được cấp giấy chứng nhận số 09 quyển số 02. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng ban đầu khá hạnh phúc. Nhưng sau một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó chủ yếu là do tính cách của hai vợ chồng không hòa hợp, bất đồng về quan điểm trong cuộc sống. Sau đó, chị đi làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc) nên vợ chồng không có điều kiện được gần gũi, quan tâm, chia sẻ do đó mâu thuẫn hôn nhân của hai vợ chồng ngày càng trầm trọng. Do khoảng cách xa xôi khiến vợ chồng không có điều kiện gần gũi, chia sẻ, quan tâm đến nhau nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Anh chị đã nhiều lần tìm cách nói chuyện, hàn gắn nhưng mâu thuẫn không cải thiện mà những mâu thuẫn vẫn tồn tại dẫn đến vợ chồng không có tiếng nói chung. Hiện nay hai vợ chồng đã sống ly thân một thời gian dài nên không thể nào hàn gắn được mâu thuẫn, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng hai chúng tôi xảy ra thường xuyên hơn, ảnh hưởng đến cuộc sống, công việc của cả hai bên. Chị đã nhiều lần làm việc, trao đổi với anh T để giải quyết thủ tục ly hôn, chấm dứt quan hệ hôn nhân nhưng anh T không hợp tác, tỏ thái độ chống đối nhưng anh T cũng không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ tình cảm, tháo gỡ cuộc sống hôn nhân đã đổ vỡ. Nay nhận thấy hôn nhân đã rơi vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân trên thực tế không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh Nguyễn Văn T có hai người con chung là cháu Nguyễn Duy T1, sinh ngày 17/6/2000 và cháu Nguyễn Hoài T2, sinh ngày 24/5/2005. Hiện nay, cháu T1 và cháu T2 đã trưởng thành, đủ tuổi thành niên nên việc ở với ai là do hai cháu tự quyết định, chị không yêu cầu Toà án giải quyết người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và cũng không yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu, đề nghị Toà án xem xét không giải quyết trong vụ án này.
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị C có đơn xin xét xử vắng mặt với lý do hiện nay chị ở xa, chị đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Toà án giải quyết vụ án.
Về phía bị đơn anh Nguyễn Văn T: Quá trình giải quyết vụ án, anh T không cung cấp bản tự khai, không tham gia các phiên họp và phiên toà. Toà án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của anh T. Tại biên bản xác minh đối với ông Nguyễn Văn T3 - trưởng thôn Phong Quang, xã V, ông T3 đã cung cấp thông tin như sau: Về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn T theo ông nắm được thì chị C đi xuất khẩu lao động từ khoảng năm 2010, sau này chị thỉnh thoảng có về thăm gia đình vài lần rồi lại sang Đài Loan làm việc, mấy năm gần
đây ông chưa thấy chị về. Do chị C đi làm ăn xa, anh T và chị C không có sự quan tâm nhau, vợ chồng sống mỗi người một nơi, anh T cũng thường đi làm ăn các nơi và ham mê cờ bạc nên vợ chồng cũng hay bất đồng quan điểm. Hiện nay anh T vẫn có hộ khẩu thường trú ở thôn nhưng làm công việc tự do nên thường xuyên vắng nhà. Về con chung: Giữa anh T và chị C có hai người con chung là cháu Nguyễn Duy T1, sinh ngày 17/6/2000 và cháu Nguyễn Hoài T2, sinh ngày 24/5/2005, hiện hai cháu đã trưởng thành, cháu T1 đang sống cùng bố tại thôn P nhưng cũng đi làm lao động tự do nên cũng ít khi ở nhà. Cháu T2 hiện đang học Đại học ở Hà Nội cũng ít khi về nhà. Về tài sản chung và nợ chung của anh T và chị C thì ông không nắm được. Hiện nay bố mẹ đẻ của anh T đều đã chết, anh T sống cùng con trai nhưng thường xuyên vắng nhà.
Toà án đã tiến hành tống đạt cho anh T các văn bản tố tụng gồm thông báo thụ lý vụ án, thông báo mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập thông qua hình thức niêm yết tại nơi cư trú của ông T, trụ sở UBND xã V, tuy nhiên anh T đều vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tại phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình tiến hành tố tụng, giải quyết vụ án người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn T có 02 người con chung là cháu Nguyễn Duy T1, sinh ngày 17/6/2000 và cháu Nguyễn Hoài T2, sinh ngày 24/5/2005, hiện hai cháu đã trưởng thành, có sức khoẻ đầy đủ và tự lập nên đề nghị không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải chịu án ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài nên Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang thụ lý là đúng về thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị C hiện đang sinh sống và làm việc tại thành phố Đ, Đài Loan. Chị C có bản tự khai và đơn xin xử vắng mặt gửi về cho Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang và các tài liệu trên đã được Văn phòng K tại Đ (Đài Loan) xác nhận. Anh Nguyễn Văn T hiện đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam (thôn P, xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang) nhưng anh T làm lao động tự do, thường xuyên không ở nhà, Tòa án tiến hành niêm yết văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh Nguyễn Văn T. Căn cứ các Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án với sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị C là hợp pháp, vợ chồng kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 20/11/1998 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc, nhưng thời gian sau phát sinh mâu thuẫn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, vợ chồng không hòa hợp, bất đồng về quan điểm trong cuộc sống. Đặc biệt là từ khi chị C đi làm việc tại Đài Loan thì mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn liên lạc và không quan tâm nhau nữa. Hiện tại chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể hàn gắn. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị C không còn, cuộc sống chung thực tế không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận xử cho chị C được ly hôn với anh T.
[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn T có hai người con chung là cháu Nguyễn Duy T1, sinh ngày 17/6/2000 và cháu Nguyễn Hoài T2, sinh ngày 24/5/2005, hiện hai cháu đã trưởng thành, có sức khoẻ đầy đủ và tự lập nên Toà án không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị C không yêu cầu Toà án xem xét, do đó Toà án không xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 28, Điều 37, khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147; các Điều 228, 238, 271, 273; khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, nên không giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, nên không giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 003518 ngày 25 tháng 11 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang do anh Nguyễn Văn S nộp thay cho chị C. Chị Nguyễn Thị C đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. Chị Nguyễn Thị C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn thời hạn 01 (một) tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Hương |
Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về ly hôn có yếu tố nước ngoài
- Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn có yếu tố nước ngoài
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị C đề nghị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T
