|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày 17 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Đồng và ông Võ Xuân Vinh
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thục Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Lực - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Phùng Chí T, sinh ngày 10/02/1998 tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi;
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Đình T1 (đã chết) và bà Lê Thị T2; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: 02 lần bị Công an huyện Đ (nay là thị xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý vào các ngày 20/12/2017 và 29/11/2018. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/10/2024 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Văn Thành D, sinh ngày 09/01/1995 tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi;
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn C và bà Võ Thị Tuyết H; có vợ là Nguyễn Thị Thu T3 và 01 con (sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 28/04/2023 bị Công an phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/10/2024 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Ngọc C1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
Người làm chứng: Anh Phan Văn M, sinh năm 1982; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 45 phút, ngày 10/10/2024 Phùng Chí T và Văn Thành D, đang ngồi chơi tại Cảng T thuộc xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình thì T nảy sinh ý định muốn sử dụng ma túy nên rủ D mỗi người góp 500.000 đồng để đi mua ma túy về sử dụng. D đồng ý rồi đưa cho T số tiền 500.000 đồng, T cầm tiền cả hai góp được là 1.000.000 đồng. Sau đó, D mượn xe mô tô của anh Trần Ngọc C1 rồi điều khiển xe chở T đi dọc theo Quốc lộ A đến gần ngã tư Q, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình thì dừng lại để xe mô tô ở bên đường rồi đi bộ vào một đường hẻm nhỏ. Cả hai gặp một nam thanh niên nên T nói chuyện và dò hỏi thì biết người này có bán ma túy và đã hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy hồng phiến thì người này đồng ý. T đưa cho người thanh niên số tiền 1.000.000 đồng, người thanh niên đó đưa lại cho T 01 túi nilon màu đen, bên trong có chứa 08 viên ma túy dạng hồng phiến. Sau khi nhận ma túy, T cất giấu ở lòng bàn tay phải của mình rồi cùng D đi bộ ra vị trí để xe mô tô để đi về tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đồng thời thu giữ, niêm phong số ma túy nói trên.
Tại Bản kết luận giám định số 1188/KL-KTHS ngày 12/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu ký hiệu A là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,723g. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 247, danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã thu giữ từ Phùng Chí T và Văn Thành D: 08 viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến có khối lượng 0,723g, sau giám định còn 0,596g Methamphetamine và vỏ bao gói; thu giữ từ Văn Thành D 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số khung: RLCUG0610GY383907, số máy: G3D4E – 403007 không gắn biển kiểm soát, đã qua sử dụng; thu giữ từ anh Trần Ngọc C1 01 biển kiểm soát xe mô tô số: 73F1-339.39.
Tại bản Cáo trạng số: 04/CT-VKSBĐ ngày 17/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình đã truy tố các bị cáo Phùng Chí T và Văn Thành D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố theo nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên các bị cáo Phùng Chí T và Văn Thành D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Chí T từ 13 đến 15 tháng tù; xử phạt bị cáo Văn Thành D từ 13 đến 15 tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày các bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 10/10/2024; về xử lý vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư dán kín trên ghi nội dung “1188/KL-KTHS” bên trong chứa 0,596g ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định kèm toàn bộ vỏ bao gói; trả lại cho anh Trần Ngọc C1 01 xe mô tô mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số khung: RLCUG0610GY383907, số máy: G3D4E – 403007 không gắn biển kiểm soát, đã qua sử dụng và 01 biển kiểm soát xe mô tô số: 73F1-339.39; về án phí: buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Các bị cáo Phùng Chí T và Văn Thành D nhất trí với tội danh và khung hình phạt như bản Cáo trạng số: 04/CT-VKSBĐ ngày 17/01/2025 và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà, không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Tại lời nói sau cùng, các bị cáo lần lượt trình bày rất ân hận về hành vi của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Tuy nhiên các bị cáo, Kiểm sát viên đều không có ý kiến gì về việc vắng mặt của những người này và yêu cầu Hội đồng xét xử tiếp tục phiên toà. Xét thấy sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không làm cản trở đến việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.
[2] Về hành vi phạm tội:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đều khai nhận: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 10/10/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý, Phùng Chí T và Văn Thành D đã rủ nhau góp tiền sau đó đến tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình mua và tàng trữ trái phép 0,723 gam chất ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị Công an thị xã B, tỉnh Quảng Bình phát hiện, bắt quả tang và lập hồ sơ xử lý.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm và hiện trường nơi xảy ra vụ án, vật chứng đã thu giữ; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa; đúng như tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Theo kết luận giám định 08 viên ma túy mà các bị cáo tàng trữ là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,723g. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 247, danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn là có căn cứ, đúng pháp luật; hành vi của các bị cáo Phùng Chí T và Văn Thành D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất kích thích, gây nghiện mà việc các bị cáo sử dụng các loại ma túy có thể dẫn đến trạng thái kích động và có hành vi bạo lực nên còn có nguy cơ có thể khiến các bị cáo gây ra những hành vi phạm tội khác nguy hiểm cho những người xung quanh, gây hoang mang, lo sợ cho người dân trên địa bàn. Các bị cáo là người đã trưởng thành, có khả năng nhận thức và hiểu biết pháp luật nhất định, đã từng bị xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên các bị cáo biết rõ việc mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng ma túy là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự nhằm đảm bảo răn đe, giáo dục và mang tính phòng ngừa chung.
[4] Về vai trò, vị trí của các bị cáo trong việc thực hiện hành vi phạm tội:
Trong vụ án này, có 02 bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng các bị cáo không có sự hẹn hò, bàn bạc, phân công với nhau từ trước mà chỉ bột phát nhất thời, trong khi nói chuyện thì nảy sinh ý định nên cùng nhau góp tiền và cùng nhau đi mua ma tuý nên các bị cáo chỉ là đồng phạm ở mức đơn giản.
Trong đó, bị cáo Phùng Chí T là người khởi xướng rủ bị cáo Văn Thành D góp tiền mua ma tuý, sau đó trực tiếp cầm tiền, giao dịch và cất giữ số ma tuý mua được. Vai trò của T là chủ động và quan trọng hơn trong vụ án nên T phải chịu trách nhiệm mức độ nặng hơn trong vụ án này. Còn Văn Thành D, khi nghe T khởi xướng thì đã đồng ý ngay, đồng thời cũng thể hiện việc tích cực trong việc chuẩn bị phương tiện để đi mua ma tuý. Do đó, Văn Thành D cũng phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi của mình.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Cả hai bị cáo đều có nhân thân xấu, từng bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; trong đó Phùng Chí T bị xử phạt 02 lần còn Văn Thành D bị xử phạt 01 lần.
[6] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy rằng các bị cáo đều có nhân thân xấu, lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội ở mức độ nghiêm trọng, thể hiện ý thức coi thường pháp luật nên cần thiết phải áp dụng quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và phòng ngừa cho xã hội.
[7] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã thu giữ, chuyển giao các vật chứng liên quan đúng quy định, phù hợp pháp luật nên thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm về các quyết định này. Các vật chứng còn lại hiện được giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn quản lý, bảo quản cần xem xét xử lý.
Đối với gồm 01 phong bì thư dán kín trên ghi nội dung “1188/KL-KTHS” bên trong chứa 0,596g Methamphetamine còn lại sau giám định và vỏ bao gói là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy;
Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số khung: RLCUG0610GY383907, số máy: G3D4E – 403007 không gắn biển kiểm soát và biển kiểm soát 73F1-339.39 được xác định là do anh Trần Ngọc C1 mua lại của anh Phan Thanh D1 (đã chết) nên đều thuộc quyền quản lý của anh C1. Thời điểm D mượn xe thì anh C1 đang rửa xe nên tháo biển kiểm soát ra để vệ sinh. Khi D mượn xe mô tô để đi mua ma túy thì anh C1 không biết nên xe mô tô và biển kiểm soát trên không liên quan đến vụ án. Do đó, cần căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại xe mô tô và biển kiểm soát nêu trên cho anh Trần Ngọc C1.
[8] Liên quan trong vụ án có đối tượng nam thanh niên đã bán ma túy cho các bị cáo nhưng do không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B tiếp tục lập hồ sơ theo dõi là phù hợp.
[9] Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; Điều 293, các khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án”;
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phùng Chí T và Văn Thành D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phùng Chí T 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (10/10/2024)
Xử phạt bị cáo Văn Thành D 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (10/10/2024)
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Phùng Chí T và Văn Thành D mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về vật chứng vụ án:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư dán kín trên ghi nội dung “1188/KL-KTHS” bên trong chứa 0,596g Methamphetamine còn lại sau giám định và vỏ bao gói.
Trả lại xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số khung: RLCUG0610GY383907, số máy: G3D4E – 403007 không gắn biển kiểm soát và biển kiểm soát 73F1-339.39 cho anh Trần Ngọc C1.
(Các vật chứng có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn ngày 17/01/2025)
4. Về án phí: Bị cáo Phùng Chí T và Văn Thành D phải nộp mỗi bị cáo 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (đối với người có mặt tại phiên toà) hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án (đối với người vắng mặt tại phiên toà).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thanh Thảo |
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên hai bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", hình phạt và xử lý vật chứng
