|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU Bản án số: 06/2025/KDTM-ST Ngày: 04/6/2025 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Tuấn Kiệt
Bà Dư Thị Út
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tô Hồng Đức – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 06/2025/TLST-KDTM, ngày 17/02/2025 về việc “Tranh chấp hợp tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-KDTM ngày 18 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S
- Địa chỉ: Số B, P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo uỷ quyền: Dương Quốc T – Trưởng phòng kinh doanh Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Chi nhánh C. Địa chỉ: Số D, đường L, Phường D, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- - Đồng bị đơn: Chị Lâm Thanh H, sinh năm 1980
- Anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 1974
- Cùng địa chỉ: Số F, đường N, Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(anh T có mặt, chị H, anh N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 05/02/2025 nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) – Người đại diện theo ủy quyền anh Dương Quốc T trình bày: Ngày 29/9/2023 Ngân hàng cùng ông Nguyễn Thanh N và bà Lâm Thanh H có ký hợp đồng tín dụng số 21.184/2023/HĐTDHM-CN, số tiền vay của Ngân hàng là 3.000.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi trong hạn 10.5%/năm, lãi suất quá hạn 15.75%/năm, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh. Để đảm bảo cho khoản vay của ông N và bà H có ký các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: 21.343/HĐTC, ngày 14/7/2021.
Hợp đồng tín dụng đã hết hạn thanh toán nhưng ông N và bà H thanh toán nợ gốc và lãi cho Ngân hàng không đầy đủ, do đó người vay đã vi phạm hợp đồng về nghĩa vụ thanh toán theo thoả thuận, nên Ngân hàng yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Nguyễn Thanh N và bà Lâm Thanh H phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 3.301.623.288 đồng. Trong đó: Nợ vay gốc: 3.000.000.000 đồng; lãi trong hạn 201.082.194 đồng; phạt gốc quá hạn: 100.541.094 đồng (thời gian tạm tính đến ngày 04/6/2025) và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán dứt nợ. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà ông N và bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh N trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của Ngân hàng, ngày 29/9/2023 ông và vợ là bà Lâm Thanh H có vay tiền của Ngân hàng số tiền 3.000.000.000 đồng để bổ sung vốn kinh doanh. Nhưng do kinh tế thị trường biến động, làm kinh tế thua lỗ nên ông không thanh toán gốc, lãi đúng hạn cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông trả nợ vay ông cũng đồng ý, trong trường hợp không có khả năng thanh toán nợ cho Ngân hàng thì cũng đồng ý cho phát mãi tài sãn thế chấp để thu hồi nợ.
Bị đơn bà Lê Thanh H1: Đã được Toà án triệu tập hợp lệ để làm việc nhưng đều vắng mặt, không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến:
Về tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử, việc gửi các văn bản cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng thời hạn. Tại phiên tòa hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Từ khi thụ lý đến khi xét xử nguyên đơn tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà sơ thẩm bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng; buộc ông Nguyễn Thanh N và bà Lâm Thanh H phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 3.301.623.288 đồng. Trong đó: Nợ vay gốc: 3.000.000.000 đồng; lãi trong hạn 201.082.194 đồng; phạt gốc quá hạn: 100.541.094 đồng (thời gian tạm tính đến ngày 04/6/2025) và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán dứt nợ. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà ông N và bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ yêu cầu của đương sự tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp: Ngân hàng Thương mại cổ phần S và ông Nguyễn Thanh N và bà Lâm Thanh H có ký kết hợp đồng tín dụng. Ông N, bà H vay để bổ sung vốn kinh doanh, nhằm mục đích lợi nhuận nên quan hệ tranh chấp thuộc án kinh doanh thương mại; nay phát sinh tranh chấp bị đơn ông N và nà H, cư trú tại Số F, đường N, Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ khoản điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân thành phố B.
[2] Về tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Nội dung vụ án:
[3.1] Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án do Ngân hàng cung cấp thì có căn cứ xác định: Ngày 29/9/2023 Ngân hàng cùng ông Nguyễn Thanh N và bà Lâm Thanh H có ký hợp đồng tín dụng số 21.184/2023/HĐTDHM-CN, số tiền vay của Ngân hàng là 3.000.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi trong hạn 10.5%/năm, lãi suất quá hạn 15.75%/năm, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh.
Căn cứ bản sao kê theo dõi của Ngân hàng, hợp đồng tín dụng đã hết hạn thanh toán nhưng N, bà H thanh toán vốn gốc và lãi không đầy đủ cho ngân hàng nên ông N, bà H đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc ông N và bà H phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 3.301.623.288 đồng. Trong đó: Nợ vay tín dụng gốc: 3.000.000.000 đồng; lãi trong hạn 201.082.194 đồng; phạt gốc quá hạn: 100.541.094 đồng (thời gian tạm tính đến ngày 04/6/2025) và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán dứt nợ là có căn cứ để chấp nhận.
[3.2] Để đảm bảo cho khoản vay của ông Nguyễn Thanh N và bà Lâm Thanh H có ký các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: 21.343/HĐTC, ngày 14/7/2021. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 200m² thuộc thửa 2651, tờ bản đồ 5 đất ở Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 581081 BĐ 268527 Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp ngày 22/02/2011 cấp cho Công ty cổ phần Đ đến ngày 27/10/2015 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thanh N và bà Lâm Thanh H. Trên đất còn có 01 căn cấp 3, có kết cấu cột bê tông cốt thép, vách xây tường, nền lót gạch mem, mái lợp ton sóng vuông, có sân vường và tường bao quanh, hiện tại do ông N và bà H đang trực tiếp quản lý sử dụng và căn nhà được xây dựng trước thời điểm thế chấp, đến nay hiện trạng không có gì thay đổi so với hiện trạng ban đầu.
Hội đồng xét xử xem xét hợp đồng thế chấp nhận thấy: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông N và bà H, khi ký kết hợp đồng thế chấp ông N và bà H cũng là người trực tiếp quản lý sử dụng. Hợp đồng thế chấp các bên đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về công chứng, chứng thực, đã được đăng ký thế chấp theo đúng các quy định. Do đó, trong trường hợp không thanh toán nợ hoặc thanh toán không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
[4] Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc yêu cầu trả nợ vay và được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp khi ông N và bà H không thanh toán đầy đủ nợ cho Ngân hàng.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu là phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông N và bà H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ngân hàng không phải chịu án phí.
[7] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã chi hết 600.000 đồng: Ngân hàng đã dự nộp 600.000 đồng. Căn cứ Điều 157 và Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ông N và bà H phải có trách nhiệm hoàn lại số tiền trên cho Ngân hàng.
[8] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông N và bà H phải chịu là 98.032.465 đồng.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều 26, 35, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
- - Các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Các Điều 100; Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với ông Nguyễn Thanh N và bà Lâm Thanh H về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Buộc ông Nguyễn Thanh N và bà Lâm Thanh H phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần L tổng số tiền 3.301.623.288 đồng. Trong đó: Nợ vay tín dụng gốc: 3.000.000.000 đồng; lãi trong hạn 201.082.194 đồng; phạt gốc quá hạn: 100.541.094 đồng (thời gian tính đến ngày 04/6/2025).
Kể từ ngày 05/6/2025 ông Nguyễn Thanh N và bà Lâm Thanh H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà ông Nguyễn Thanh N và bà Lâm Thanh H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, ông Nguyễn Thanh N và bà Lâm Thanh H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S thì Ngân hàng Thương mại cổ phần S có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bán đấu già tài sản thế chấp để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cụ thể như sau: Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 200m² thuộc thửa 2651, tờ bản đồ 5 đất ở Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 581081 BĐ 268527 Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp ngày 22/02/2011 cấp cho Công ty cổ phần Đ đến ngày 27/10/2015 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thanh N và bà Lâm Thanh H. Trên đất còn có 01 căn cấp 3, có kết cấu cột bê tông cốt thép, vách xây tường, nền lót gạch mem, mái lợp ton sóng vuông, có sân vườn và tường bao quanh.
- Buộc ông Nguyễn Thanh N và bà Lâm Thanh H có trách nhiệm giao tài sản thế chấp đã nêu ở mục 3 tại phần Quyết định của bản án để thực hiện nghĩa vụ phát mãi tài sản khi có đơn yêu cầu.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 600.000 đồng: Buộc ông Nguyễn Thanh N và bà Lâm Thanh H có trách nhiệm hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 600.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch buộc ông Nguyễn Thanh N và bà Lâm Thanh H phải chịu là 98.032.465 đồng.
- Án dân sự sơ thẩm có giá ngạch Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu, Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã dự nộp tạm ứng án phí 47.000.000 đồng, tại Biên lai thu số: 0000073 ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại toàn bộ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy |
Bản án số 06/2025/KDTM-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 06/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ngân hàng A khởi kiện yêu cầu anh ngh trả nợ vay 1.800.000.000 đ