Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/KDTM- PT

Ngày: 04/4/2025

V/v Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

-Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang, ông Nguyễn Việt Hùng

-Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Anh– Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Giáp Thị Thủy– Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11/02/2025, ngày 17/3/2025 và ngày 04/4/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 20/2024/TLPT-KDTM ngày 04/12/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/KDTM-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 12/2024/QĐ-PT ngày 16/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 466/2024/QĐ-PT ngày 30/12/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 06/TB-TA ngày 21/01/2025; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2025/QĐ-PT ngày 11/02/2025, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 21/TB-TA ngày 25/02/2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 03/2025/QĐ-PT ngày 17/3/2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 04/2025/QĐ-PT ngày 24/3/2025 giữa:

Nguyên đơn: Công ty C - Ngân hàng N (viết tắt là Công ty C)

Địa chỉ: Số D P, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Trương Thị Xuân T- Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Ngọc T1- Chức vụ: Trưởng phòng kinh doanh Công ty C, bà Đặng Mai P (văn bản ủy quyền số 05/QĐ-ALCI-HCNS ngày 23/02/2024 và văn bản ủy quyền số 55/ALCI-HCNS ngày 13/3/2025 - có mặt).

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Phạm Thị T2- Công ty L & Các Cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt)

Địa chỉ liên hệ: Số D P, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B - Chủ Doanh nghiệp tư nhân H1 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị B – Chủ Doanh nghiệp tư nhân H1 là bị đơn (có mặt)

* Kháng nghị số 01/QĐ-VKS-KDTM ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2024/KDTM-ST ngày 20/9/2024, tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung như sau:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn là Công ty C – Ngân hàng N trình bày:

Ngày 29/5/2002, giữa Công ty C và Doanh nghiệp tư nhân H1 (viết tắt là Doanh nghiệp H1) có ký kết hợp đồng cho thuê tài chính số 261/HĐCT/ALCI với nội dung như sau:

Công ty cho thuê tài chính I cho Doanh nghiệp tư nhân H1 thuê 01 máy xúc đào mang nhãn hiệu FIAT-HITACHI. Tổng giá trị tài sản cho thuê là 450.070.000 đồng. Trong đó Doanh nghiệp tư nhân H1 đã đặt cược số tiền là 100.000.000 đồng. Việc thanh toán tiền thuê theo lịch thanh toán được quy định tại phụ lục 04B/CTTC, phương thức thanh toán theo phụ lục 04D/CTTC. Thời hạn thuê là 36 kỳ (01 kỳ tương ứng với 01 tháng). Ngày nhận nợ là ngày 05/6/2002, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 20/5/2005. Lãi suất cho thuê là 0,9%/tháng tính bằng 30 ngày. Trường hợp để phát sinh nợ quá hạn, lãi suất cho thuê quá hạn thu bằng 150% lãi suất cho thuê trong hạn. Mục đích sử dụng tài sản thuê là để phục vụ cho hoạt động kinh doanh hợp pháp của Doanh nghiệp Hội Biển.

Ngoài ra, H cho thuê tài chính số 261/HĐCT/ALCI còn có quy định một số nội dung khác về thanh toán tiền thuê, về đặt cọc, ký cược, về giao nhận tài sản thuê, quyền và nghĩa vụ của các bên, về thanh lý hợp đồng và xử lý tài sản sau khi kết thúc hợp đồng cho thuê.....

Quá trình thực hiện hợp đồng Doanh nghiệp H1 đã vi phạm hợp đồng cho thuê tài chính và phát sinh nợ quá hạn kéo dài mặc dù Công ty C1 đã đôn đốc nhiều lần. Vì vậy, Công ty C yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề như sau:

- Buộc Doanh nghiệp tư nhân H1 phải trả cho Công ty C nợ gốc là 77.190.260 đồng, nợ lãi trong hạn là 2.803.747 đồng, nợ lãi quá hạn là 248.461.260 đồng và nợ lãi quá hạn treo là 2.080498 đồng (tính đến ngày 20/9/2024).

- Buộc Doanh nghiệp tư nhân H1 phải trả cho Công ty cho thuê tài chính I toàn bộ nợ lãi cho đến ngày Doanh nghiệp tư nhân Hội Biển trả hết các khoản nợ gốc, nợ lãi cho Công ty C.

-Trường hợp Doanh nghiệp tư nhân H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/ quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Công ty C có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản cho thuê tài chính là 01 máy xúc đào mang nhãn hiệu Fiat- Hitachi và bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Doanh nghiệp tư nhân H1.

Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu nào khác.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị B- Chủ Doanh nghiệp tư nhân H1 trình bày:

Giữa Công ty cho thuê tài chính I và Doanh nghiệp tư nhân H1 có ký kết hợp đồng cho thuê tài chính số 261/HĐCT/ALCI với nội dung như sau:

Công ty cho thuê tài chính I cho Doanh nghiệp tư nhân H1 thuê 01 máy xúc đào mang nhãn hiệu FIAT-HITACHI. Tổng giá trị tài sản cho thuê là 450.070.000 đồng. Trong đó Doanh nghiệp tư nhân H1 đã đặt cược số tiền là 100.000.000 đồng. Thời hạn thuê là 36 kỳ (01 kỳ tương ứng với 01 tháng). Ngày nhận nợ là ngày 05/6/2002, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 20/5/2005. Lãi suất cho thuê là 0,9%/tháng tính bằng 30 ngày. Trường hợp để phát sinh nợ quá hạn, lãi suất cho thuê quá hạn thu bằng 150% lãi suất cho thuê trong hạn. Mục đích sử dụng tài sản thuê là để phục vụ cho hoạt động kinh doanh hợp pháp của Doanh nghiệp Hội Biển. Ngoài ra, H cho thuê tài chính số 261/HĐCT/ALCI còn có quy định một số nội dung khác.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Doanh nghiệp Hội Biển có vi phạm hợp đồng do thời điểm đó Doanh nghiệp làm ăn gặp nhiều khó khăn. Hai bên đã lập biên bản nhiều lần để thống nhất với nhau về việc trả nợ. Doanh nghiệp H1 đã thanh toán toàn bộ số nợ cho Công ty C, trả bằng tiền mặt. Do thời gian đã lâu nên bà không nhớ rõ bà trả thời gian nào nhưng khi bà trả tiền thì nhân viên của Công ty cho thuê tài chính I đã lập biên bản nhưng nay bà không có để cung cấp.

Doanh nghiệp tư nhân H1 không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì Doanh nghiệp đã thanh toán đầy đủ nợ gốc và lãi cho Công ty C và Công ty C đã lập biên bản thanh lý hợp đồng với Doanh nghiệp tư nhân H1 nhưng hiện nay không còn giữ được biên bản thanh lý do thời gian đã lâu.

Quá trình giải quyết vụ án, Công ty cho thuê tài chính I có đơn đề nghị xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với tài sản là 01 máy xúc đào mang nhãn hiệu Fiat- Hitachi. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản như sau:

- Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 05/9/2024: Do các đương sự không cung cấp được tài liệu liên quan để xác định cụ thể thông tin của máy xúc đào

mang nhãn hiệu Fiat- Hitachi nên Hội đồng thẩm định không tiến hành xem xét thẩm định được.

+ Ý kiến của ông Nguyễn Ngọc T1, đại diện Công ty cho thuê tài chính: Chiếc xe máy xúc đào mang nhãn hiệu Fiat- Hitachi sản xuất năm 1998 không có đăng ký có số khung là W150-7CD00242, không xác định được số máy, đã qua sử dụng. Chiếc máy này được mua lại năm 2002 với giá 450.000.000 đồng.

+ Ý kiến của bà Nguyễn Thị B: Bị đơn chỉ nắm được tài sản là 01 máy xúc đào mang nhãn hiệu Fiat-Hitachi sản xuất năm 1998, có số khung W150-7CD00242, không xác định được số máy, không rõ chiếc xe này đi vào khai thác, sử dụng năm nào. Chiếc xe này được mua lại năm 2002 với giá 450.000.000 đồng.

- Kết quả định giá tài sản ngày 05/9/2024: Các đương sự trình bày hiện nay chiếc máy xúc đào mang nhãn hiệu Fiat- Hitachi không còn. Bà B khai đã bán chiếc máy xúc đào này từ những năm 2006- 2007, cụ thể bán năm nào thì bà không nhớ. Tại buổi định giá tài sản nguyên đơn và bị đơn không cung cấp được chiếc máy xúc đào nhãn hiệu Fiat- Hitachi để Hội đồng tiến hành định giá nên Hội đồng không xác định được giá trị của chiếc máy xúc đào nhãn hiệu Fiat- Hitachi.

Với nội dung nêu trên, Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2024/KDTM-ST ngày 20/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam đã quyết định:

Áp dụng: Điều 90 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 471 và Điều 474 Bộ luật dân sự; Điều 30, Điều 35, khoản 1 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty C1 thuộc Ngân hàng N, buộc Doanh nghiệp tư nhân H1 do bà Nguyễn Thị B đại diện phải thanh toán cho Công ty C1 thuộc Ngân hàng N tổng số tiền là 328.455.267 đồng, trong đó: nợ gốc là 77.190.260 đồng, nợ lãi trong hạn là 2.803.747 đồng và nợ lãi quá hạn là 248.461.260 đồng.

Từ ngày 21/9/2024, Doanh nghiệp tư nhân H1 do bà Nguyễn Thị B đại diện tiếp tục phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính và phụ lục hợp đồng trên số nợ gốc tương đương với thời gian chậm thanh toán cho đến khi hoàn tất toàn bộ khoản vay.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C1 thuộc Ngân hàng N về việc buộc Doanh nghiệp tư nhân H1 phải thanh toán cho Công ty cho thuê tài chính 1 số tiền nợ lãi quá hạn treo là 2.080.498 đồng.

3. Không chấp nhận yêu cầu của Công ty C1 về việc trường hợp Doanh nghiệp tư nhân H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Công ty C1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản cho thuê tài chính là 01 máy xúc đào mang nhãn hiệu Fiat- Hitachi và bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Doanh nghiệp tư nhân H1.

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/10/2024 bị đơn nộp đơn kháng cáo đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-KDTM ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang kháng nghị toàn bộ bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2024/KDTM-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam theo hướng sửa bản án sơ thẩm do xác định sai tư cách tham gia tố tụng của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn trình bày;

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Tổng số tiền thuê theo hợp đồng là 450.000.000 đồng, bị đơn đã thanh toán trả 372.879.739 đồng tiền thuê và 58.523.996 đồng nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn 26.609.616 đồng. Việc thu nợ gốc, nợ lãi ghi trong các phiếu thu của Hợp đồng cho thuê tài chính số 261/HĐCT/ALC1 ngày 29/5/2002 được xác định là theo Khế ước số 0204240005.02

Căn cứ chứng minh số tiền nợ gốc, nợ lãi bị đơn đã trả; số tiền nợ gốc, nợ lãi bị đơn còn nợ nguyên đơn: Hợp đồng cho thuê tài chính số 261/HĐCT/ALC1 ngày 29/5/2002, Bảng tính tiền thuê tài chính, các phiếu thu tiền, phiếu chuyển khoản (nguyên đơn đã liệt kê tại Bảng kê chi tiết trả gốc, lãi đã trả) do nguyên đơn, bị đơn đều cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm.

-Ngày 05/9/2006, bị đơn có nộp số tiền 100.000.000 đồng, tại phiếu thu ghi nội dung thu “treo” tức là chưa được hạch toán vào khoản nợ nào. Đến ngày 08/9/2006, số tiền này đã được hạch toán trả vào số tiền thuê bị đơn phải trả là 72.497.718 đồng (thể hiện tại Phiếu chuyển khoản ngày 08/9/2006 từ tài khoản nợ số 459901.424005 đến tài khoản có số 231504.240005), số tiền còn lại được hạch toán chuyển trả vào khoản nợ lãi trong hạn là 7.496.287 đồng (thể hiện tại Phiếu chuyển khoản ngày 08/9/2006 từ tài khoản nợ số 459901.424005 đến tài khoản có số 705001.01) và khoản nợ lãi quá hạn là 20.005.995 đồng (thể hiện tại Phiếu chuyển khoản ngày 08/9/2006 từ tài khoản nợ số 459901.424005 đến tài khoản có số 705001.02) của hợp đồng 261.

- Tại văn bản số 252 ngày 08/9/2005 của nguyên đơn gửi bị đơn có nội dung ghi tính đến thời điểm 08/9/2005 số tiền nợ quá hạn cả gốc và lãi của bị đơn đối với HĐ số 261 là 135.021.000 đồng và tại biên bản làm việc ngày 09/02/2012 nguyên đơn xác định số tiền thuê bị đơn đã trả cho nguyên đơn theo Hợp đồng 261 là 492.564.764 đồng trong đó gốc 434.040.766 đồng, lãi 58.523.998 đồng, hiện tại Doanh nghiệp còn nợ gốc 16.029.234 đồng, lãi 40.168.815 đồng (lãi tính đến 20/12/2007) là do nguyên đơn tính toán nhầm lẫn do vậy tại biên bản làm việc ngày 13/8/2012 nguyên đơn thông báo số tiền thuê máy bị đơn còn nợ là 77.000.000 đồng.

- Số tiền lãi quá hạn nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê theo kỳ được các bên thỏa thuận trong hợp đồng (Bảng tính tiền thuê tài chính – Phụ lục 4B/CTTC), số tiền lãi này được tính trên số tiền thuê quá hạn (khoản tiền gốc) bị đơn chưa trả theo định kỳ. Bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê, tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng từ ngày 20/9/2004.

Bị đơn trình bày:

- Bị đơn kháng cáo đối với quyết định của bản án sơ thẩm tuyên về nghĩa vụ trả tiền thuê (nợ gốc), nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn, đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu trả nợ gốc, nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn của nguyên đơn, ngoài ra bị đơn không kháng cáo nội dung nào khác.

- Bị đơn đã thanh toán trả hết số tiền thuê của hợp đồng số 261 bao gồm tiền thuê, tiền lãi. Căn cứ chứng cứ là các Phiếu thu tiền bị đơn đã nộp bản gốc tại phiên tòa phúc thẩm. Bị đơn xác nhận thời gian trả tiền, số tiền trả ghi tại các phiếu thu do bị đơn giao nộp tại phiên tòa phúc thẩm đúng với số tiền, thời gian trả mà nguyên đơn đã liệt kê tại bảng chi tiết công nợ nguyên đơn cung cấp cho Tòa án và hai bên đối chiếu ngay tại phiên tòa phúc thẩm.

- Ngày 05/9/20006 bị đơn có nộp số tiền 100.000.000 đồng nhưng chưa thấy nguyên đơn kê tại bảng chi tiết công nợ (thể hiện tại phiếu thu ngày 05/9/2006 số bút toán S50098).

- Theo thông báo của nguyên đơn tại Công văn số 252 ngày 08/9/2005 gửi bị đơn có nội dung ghi tính đến thời điểm 08/9/2005 tổng số tiền nợ quá hạn cả gốc và lãi của bị đơn đối với HĐ số 261 và hợp đồng 240 là 155.543.212 đồng (HĐ 261 là 135.021.000 đồng, hđ 240 là 20.522.212 đồng) và tại biên bản làm việc ngày 09/02/2012 nguyên đơn xác định số tiền thuê bị đơn đã trả cho nguyên đơn theo Hợp đồng 261 là 492.564.764 đồng trong đó gốc 434.040.766 đồng, lãi 58.523.998 đồng, hiện tại Doanh nghiệp còn nợ gốc 16.029.234 đồng, lãi 40.168.815 đồng (lãi tính đến 20/12/2007). Tính từ ngày 08/9/2005 đến nay bị đơn đã trả nguyên đơn tổng 172.500.000 đồng (ngày 08/4/2005 trả 9.000.000 đồng, ngày 20/4/2005 trả 9.000.000 đồng, ngày 25/5/2005 trả 15.000.000 đồng,

ngày 23/4/2005 trả 20.000.000 đồng, ngày 05/9/2005 trả 109.000.000 đồng, ngày 14/8/2006 trả 10.500.000 đồng). Do vậy, bị đơn không còn nợ nguyên đơn khoản tiền nào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:

- Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp phúc thẩm: Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ và đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.

- Về việc giải quyết vụ án: Sau khi đánh giá lời trình bày của các đương sự, các tài liệu, chứng cứ và phân tích những tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân huyện Lục Nam (xác định lại bị đơn là bà Nguyễn Thị B- Chủ Doanh nghiệp tư nhân H1).

+ Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Bị đơn phải chịu 2000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn đối với yêu cầu trả nợ tiền thuê (tiền nợ gốc), Hội đồng xét xử thấy:

[2.1] Căn cứ vào lời khai của các đương sự, tài liệu thu thập được xác định: Ngày 29/5/2002, giữa Công ty C và Doanh nghiệp tư nhân H1 có ký kết hợp đồng cho thuê tài chính số 261/HĐCT/ALCI, tài sản thuê là 01 máy xúc đào mang nhãn hiệu FIAT-HITACHI. Thời hạn thuê là 36 kỳ (01 kỳ tương ứng với 01 tháng) kể từ ngày 05/6/2002 (là ngày nhận tài sản thuê) đến ngày 20/5/2005. Tổng số tiền cho thuê là 450.070.000 đồng.

[2.2] Tại Điều 7 Hợp đồng cho thuê tài chính số 261 các bên thỏa thuận về thanh toán tiền thuê như sau: “Bên B (Doanh nghiệp tư nhân H1) cam kết thanh toán tiền thuê đầy đủ, đúng hạn theo lịch thanh toán được quy định tại Phụ lục 04B/CTTC. Phương thức thanh toán theo phụ lục 04D/CTTC”. Theo thỏa thuận ký kết của các bên tại Phụ lục 04B/CTTC – Bảng tính tiền thuê tài chính (BL15) thì tổng số tiền thuê 450.070.000 đồng gồm 36 kỳ trả nợ (gồm trả tiền gốc, tiền

lãi - kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 05/6/2002, kỳ trả nợ cuối cùng vào ngày 20/5/2005). Theo lời khai của nguyên đơn thì bị đơn đã thanh toán xong tiền thuê (nợ gốc) đến kỳ 29 và còn nợ tiền thuê từ kỳ 30 (ngày 21/11/2004) với số tiền là 77.190.260 đồng (trong đó đã trừ số tiền 100.000.000 đồng mà Doanh nghiệp tư nhân H1 đã đặt cược khi các bên ký hợp đồng).

[2.3] Bị đơn cho rằng đã thanh toán hết toàn bộ nợ gốc cho nguyên đơn và các bên đã thanh lý hợp đồng nhưng bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ về việc hai bên đã thanh lý hợp đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn cung cấp bản gốc các phiếu thu về việc thanh toán trả tiền của bị đơn đối với hợp đồng số 261. Hội đồng xét xử đã cho nguyên đơn, bị đơn trình bày, đối chiếu số tiền của từng lần trả theo từng ngày ghi trong từng phiếu thu, phiếu chuyển khoản mà nguyên đơn, bị đơn đã cung cấp, kết qủa nguyên đơn bị đơn đều thống nhất từ ngày 05/6/2002 đến ngày 08/9/2006 tổng số tiền thuê (tiền gốc) bị đơn đã trả nguyên đơn là 372.879.739 đồng, số tiền lãi trong hạn đã trả là 58.523.996 đồng, số tiền lãi quá hạn đã trả là 26.609.616 đồng.

[2.4] Bị đơn cho rằng, ngày 05/9/2006 bị đơn nộp số tiền 100.000.000 đồng cho nguyên đơn nên bị đơn không còn nợ số tiền thuê như nguyên đơn khởi kiện thì thấy: Tại phiếu thu ngày 05/9/2006 ghi số tiền nộp là 100.000.000 đồng, trích yếu: “thu treo chờ TT –DNTN Hội Biển”. Theo trình bày của nguyên đơn thì số tiền 100.000.000 đồng bị đơn nộp ngày 05/9/2006 chưa được thanh toán cho hợp đồng nào nên trong phiếu thu ghi “thu treo chờ thanh toán” và được hạch toán vào tài khoản 101101.01- 459901.424005. Số tiền này sau đó đã được nguyên đơn hạch toán (thu) vào số tiền nợ gốc là 72.497.718 đồng, số tiền nợ lãi trong hạn là 7.496.287 đồng và tiền lãi quá hạn là 20.005.995 đồng của Khế ước số 0204240005.02 (Hợp đồng 261/ALCI ngày 29/5/2002 - thể hiện tại Phiếu chuyển khoản ngày 08/9/2006 từ tài khoản nợ số 459901.424005 đến tài khoản có số 231504.240005, Phiếu chuyển khoản ngày 08/9/2006 từ tài khoản nợ số 459901.424005 đến tài khoản có số 705001.01 và Phiếu chuyển khoản ngày 08/9/2006 từ tài khoản nợ số 459901.424005 đến tài khoản có số 705001.02)

[2.5] Ngoài các phiếu thu đã nộp, bị đơn không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào khác về việc đã trả hết số tiền thuê cho nguyên đơn. Căn cứ vào Phụ lục 04B/CTTC – Bảng tính tiền thuê tài chính, các phiếu thu, phiếu chuyển khoản từ ngày 04/6/2002 đến ngày 08/9/2006 do các đương sự giao nộp xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn 77.190.260 đồng tiền thuê tài sản như nguyên đơn khởi kiện là đúng. Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền nợ gốc là 77.190.260 đồng là có căn cứ. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn đối với yêu cầu trả nợ lãi tiền thuê trong hạn, Hội đồng xét xử thấy:

Tại Điều 5 của Hợp đồng cho thuê tài chính số 261/HĐCT/ALC1 ngày 29/5/2002 các bên thỏa thuận: “Lãi suất cho thuê là: 0,9%/tháng tính bằng 30 ngày”. Việc các bên thỏa thuận mức lãi suất cho thuê là 0,9%/ tháng là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, phù hợp quy định pháp luật. Căn cứ vào Bảng tính tiền thuê tài chính của Công ty cho thuê tài chính I thì tổng số tiền lãi trong hạn mà Doanh nghiệp tư nhân H1 phải trả là 61.327.743 đồng. Căn cứ vào các phiếu thu, phiếu chuyển khoản từ ngày 04/6/2002 đến ngày 08/9/2006 do các đương sự giao nộp và đã được các đương sự đối chiếu, xác nhận tại phiên tòa phúc thẩm thì tổng số tiền lãi trong hạn mà Doanh nghiệp H1 đã trả tính đến ngày 08/9/2006 là 58.523.996 đồng. Bị đơn cho rằng đã thanh toán hết toàn bộ số tiền nợ lãi trong hạn cho nguyên đơn nhưng bị đơn không đưa ra được căn cứ chứng cứ chứng minh nào khác ngoài các phiếu thu bị đơn đã nộp. Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán số tiền lãi trong hạn là 2.803.747 đồng là có căn cứ. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

[4] Xét kháng cáo của bị đơn đối với yêu cầu trả lãi tiền thuê quá hạn:

Theo thỏa thuận tại Điều 7 Hợp đồng cho thuê tài chính số 261/HĐCT/ALC1 ngày 29/5/2002 về thanh toán tiền thuê thì “Bên B cam kết thanh toán tiền thuê đầy đủ, đúng hạn theo lịch thanh toán được quy định tại phụ lục 04B/CTTC. Trường hợp đến kỳ thanh toán nếu bên B không trả được nợ mà không được bên A đồng ý cho gia hạn nợ thì bên A sẽ tính lãi phạt nợ quá hạn số tiền để nợ quá hạn.”

Tại Điều 5 của Hợp đồng cho thuê tài chính số 261/HĐCT/ALC1 ngày 29/5/2002 các bên thỏa thuận: “Trường hợp để phát sinh nợ quá hạn, lãi suất cho thuê quá hạn thu bằng 150% lãi suất cho thuê trong hạn”.

Việc các bên thỏa thuận mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho thuê trong hạn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, phù hợp với quy định tại mục 24.6 Thông tư số 08/NHN ngày 06/9/2001 của Ngân hàng N1 hướng dẫn thực hiện Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 của Chính phủ về quy chế tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam và khoản 6 Điều 3, Điều 7 Thông tư số 26/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho thuê tài chính của Công ty cho thuê tài chính.

Theo Phụ lục 4B/CTTC – Bảng tính tiền thuê tài chính kèm theo hợp đồng số 261/HĐCT/ALC1 ngày 29/5/2002 thì bị đơn có trách nhiệm trả tiền thuê, lãi tiền thuê trong 36 kỳ bắt đầu từ ngày 05/6/2002 đến ngày 20/5/2005. Theo trình bày của các đương sự, các phiếu thu, phiếu chuyển khoản do các đương sự cung

cấp thì bị đơn đã không thanh toán tiền thuê đầy đủ, đúng hạn theo lịch thanh toán được quy định tại phụ lục 04B/CTTC, bị đơn không được nguyên đơn đồng ý cho gia hạn nợ, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ từ ngày 20/9/2004 nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lãi tiền thuê quá hạn, mức lãi suất 150% là có căn cứ phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 5 Hợp đồng 261.

Bị đơn cho rằng đã thanh toán hết toàn bộ số tiền nợ lãi quá hạn cho nguyên đơn nhưng bị đơn không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh. Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền nợ lãi quá hạn là 248.461.260 đồng là có căn cứ như phân tích nêu trên. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

[5] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, Hội đồng xét xử thấy:

Theo khoản 3 Điều 190 Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định: "3. Chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án, đại diện cho doanh nghiệp tư nhâH1 thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật". Khi thụ lý, giải quyết Toà án nhân dân huyện Lục Nam xác định bị đơn trong vụ án là “Doanh nghiệp tư nhân Hội Biển” là không chính xác mà cần phải xác định tư cách tham gia tố tụng trong vụ án này của bị đơn là “Bà Nguyễn Thị B - Chủ doanh nghiệp tư nhân H1”. Bản án kinh doanh thương mại số 04/2024/DS-KDTM ngày 20/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang có vi phạm vì xác định sai tư cách tố tụng của bị đơn, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn B đã tham gia tố tụng đầy đủ (với tư cách người đại diện theo pháp luật Doanh nghiệp tư nhân H1) nên quyền lợi của bị đơn vẫn đảm bảo. Do vậy, không cần thiết phải huỷ bản án sơ thẩm mà chỉ cần sửa án sơ thẩm để xác định lại bị đơn như kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang là có căn cứ.

[6] Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết các quyết định khác của bản án sơ thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị.

[7] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị B - Chủ doanh nghiệp H1, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2024/KDTM-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Căn cứ Điều 476, Điều 477, Điều 486 Bộ luật Dân sự năm 1995

Căn cứ Điều 688, Điều 472, Điều 481 Bộ luật Dân sự 2015

Căn cứ Điều 90 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng

Căn cứ Điều 30, Điều 35, khoản 1 Điều 147, Điều 148, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự

Căn cứ Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C – Ngân hàng N: Buộc bà Nguyễn Thị B – Chủ doanh nghiệp H1 trả Công ty C – Ngân hàng N tổng số tiền 328.455.267 đồng, trong đó: nợ gốc là 77.190.260 đồng, nợ lãi trong hạn là 2.803.747 đồng và nợ lãi quá hạn là 248.461.260 đồng.

Kể từ ngày 21/9/2024, bà Nguyễn Thị B – Chủ doanh nghiệp tư nhân H1 còn phải chịu khoản tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C – Ngân hàng N về việc buộc bà Nguyễn Thị B – Chủ doanh nghiệp H1 trả Công ty cho thuê tài chính I số tiền nợ lãi quá hạn treo là 2.080.498 đồng.

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C – Ngân hàng N về việc trường hợp bà Nguyễn Thị B – Chủ doanh nghiệp H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Công ty C có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản cho thuê tài chính là 01 máy xúc đào mang nhãn hiệu Fiat- Hitachi và bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Doanh nghiệp tư nhân H1.

4. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị B – Chủ doanh nghiệp H1 phải chịu 16.422.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

- Công ty C– Ngân hàng N phải chịu 3.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 8.100.000 đồng đã nộp tạm ứng

án phí theo biên lai số 0008202 ngày 25/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Trả lại cho Công ty C– Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí là 5.100.000 đồng.

5. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị B – Chủ doanh nghiệp H1 phải chịu 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008413 ngày 02/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận bà Nguyễn Thị B – Chủ doanh nghiệp H1 đã nộp đủ án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Toà án nhân dân huyện Lục Nam;
  • -Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu HS; VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Triệu Thị Luyện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/KDTM- PT ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính

  • Số bản án: 06/2025/KDTM- PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính giữa công ty C và DNTN H1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger