Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HSST

Ngày 02/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Lý Đức Hiệp
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Trương Thế Phương Lan
  • 2. Bà: Vàng Thị Thu

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà: Thào Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu tham gia phiên toà: Bà: Phan Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4- Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/HSST, ngày 31 tháng 10 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 20/11/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lù Văn Ch

Sinh năm: 1996, tại tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản Nà Hừ 2, xã Bum Nưa, tỉnh Lai Châu.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Thái;

Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam

Con ông: Lù Văn Th (sinh năm 1973) và con bà: Vàng Thị V (sinh năm 1973) hiện bố, mẹ bị cáo đang sinh sống tại bản Nà Hừ 2, xã Bum Nưa, tỉnh Lai Châu.

Gia đình bị cáo có 03 chị, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;

Vợ, con: Vợ Vàng Thị Nh - sinh năm 2001 và bị cáo có 01 con, sinh năm 2021.

Hiện vợ, cùng con đang sinh sống tại bản Nà Hừ 2, xã Bum Nưa, tỉnh Lai Châu.

Tiền sự: Không;

Tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/07/2025, đến ngày 01/08/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Mường Tè thuộc trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu.

(Có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà: Nguyễn Thị Nga - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu.

(Có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 07 giờ ngày 29/7/2025 Lù Văn Ch đi bộ từ nhà tại bản Nà Hừ 2, xã Bum Nưa lên bản Pa Mu, xã Hua Bum để tìm mua Heroine sử dụng. Tại bản Pa Mu, Ch đã gặp một người đàn ông lạ mặt và mua được của người đàn ông này 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng với giá 100.000 đồng. Sau đó, Ch cầm trên tay trái rồi đi bộ về nhà. Hồi 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi Ch đi đến km 296 + 450 quốc lộ 4H thuộc bản Pa Mu, xã Hua Bum, tỉnh Lai Châu thì gặp tổ công tác Công an xã Hua Bum đang làm nhiệm vụ đã phát hiện trong lòng bàn tay trái của Ch đang cầm 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng. Tại đây, Lù Văn Ch đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và mời người chứng kiến và niêm phong vật chứng như đã nêu trên.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 29/07/2025 xác định khối lượng gói chất bột khô màu trắng thu giữ của Lù Văn Ch có tổng khối lượng 0,23 (không phẩy hai mươi ba) gam gửi toàn bộ đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 619/KL-KTHS ngày 31/07/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Mẫu chất bột khô màu trắng thu giữ của Lù Văn Ch có khối lượng 0,23 gam gửi giám định là ma túy, loại Heroin. (không hoàn lại mẫu vật giám định).

Tại bản Cáo trạng số: 09/CT-VKSKV4 ngày 31 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4-Lai Châu đã truy tố bị cáo Lù Văn Ch về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).

Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS quy định:

  1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
    • Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Tại phiên tòa hôm nay Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lù Văn Ch theo bản cáo trạng và đưa ra các căn cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ vật chứng đã thu giữ 01 (một) gói chất bột khô màu trắng có khối lượng 0,23 gam là heroine thu giữ của bị cáo cùng các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện VKS khẳng định bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và đề nghị HĐXX áp dụng Điều 38; Điều 50; Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo và đề nghị miễn án phí cho bị cáo (vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, là hộ nghèo) và đề nghị xử lý vật chứng như sau: Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

  • + Tịch thu tiêu hủy: Mảnh nilon màu trắng và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được cho vào một phòng bì do bưu điện Việt Nam phát hành sau đó được niêm phong lại.
  • + Tổng khối lượng 0,23 (không phẩy hai mươi ba) gam Heroin gửi toàn bộ đi giám định (không hoàn lại mẫu vật giám định).

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đã đưa ra một số luận cứ bào chữa cho bị cáo và đề nghị HĐXX xem xét áp dụng một số tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt. Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị miễn án phí cho bị cáo (vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, là hộ nghèo).

Về phía bị cáo, tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai và bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên. Cơ quan Viện kiểm sát khu vực 4 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng, bị cáo thừa nhận đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai.

  • * Về lời khai của bị cáo: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận rằng: Khi khai nhận trước Cơ quan điều tra, bị cáo không hề bị bức cung, nhục hình; các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, bị cáo được nghe đọc lại và tự nguyện điểm chỉ và bị cáo thừa nhận đã tàng trữ trái phép tổng khối lượng 0,23 (không phẩy hai mươi ba) gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là tự nguyện, khách quan; biên bản, tài liệu điều tra được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • * Xét qua trình tham gia tố tụng của người bào chữa cho bị cáo tiền hành đều hợp pháp, xét quan điểm bào chữa của bào chữa viên HĐXX thấy rằng việc đề xuất áp dụng điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt. Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo và miễn án phí cho bị cáo là có căn cứ cần chấp nhận.
  • * Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và ý kiến của bị cáo HĐXX thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Lai Châu tham gia phiên tòa đã đưa ra các căn cứ chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ kết quả mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu vật gửi đi giám định. Kết luận giám định số 619/KL-KTHS ngày 31/07/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu đối với mẫu vật thu giữ của bị cáo Ch gửi giám định là ma túy, loại Heroin. Các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bởi vì những quan điểm này phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án cùng lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đã cho thấy: Hồi 08 giờ 30 phút ngày 29/7/2025, tại Km 296 + 450 quốc lộ 4H thuộc bản Pa Mu, xã Hua Bum, tỉnh Lai Châu, Lù Văn Ch có hành vi tàng trữ trái phép 0,23 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Hua Bum, tỉnh Lai Châu phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lù Văn Ch phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).

3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, không đi học nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, khó khăn đã được Ủy ban nhân dân xã Bum Nưa, tỉnh Lai Châu xác nhận. Đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên vì vậy khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét hành vi phạm tội với tính chất của bị cáo đã gây ra, gây bức xúc cho nhân dân tại địa phương, coi thường pháp luật. Với khối lượng ma túy 0,23 gam của bị cáo tàng trữ để sử dụng việc đề nghị của VKS áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS việc đề nghị của VKS xử phạt bị cáo từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 08 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, HĐXX xét thấy chưa phù hợp cần có một mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của VKS để tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định và cũng là bài học cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, để cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Không

[6] Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

  • - Đối với gói Heroine thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Ch có khối lượng 0,23 gam: Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ giám định không hoàn lại mẫu vật theo đúng quy định của pháp luật.
  • - Tịch thu tiêu hủy: Mảnh nilon màu trắng và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được cho vào một phòng bì do bưu điện Việt Nam phát hành sau đó được niêm phong lại.

Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Phòng thi hành án dân sự khu vực 4-Lai Châu theo quy định của pháp luật.

[7] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ đều cho thấy bị cáo nghề nghiệp lao động tự do không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về án phí: HĐXX xét miễn án phí cho bị cáo (vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, là hộ nghèo).

Trong vụ án này: - Theo lời khai của bị cáo nguồn gốc số Heroine do bị cáo mua được của một người đàn ông lạ mặt. Do bị cáo không biết rõ nhân thân, lai lịch của người này và ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có đủ căn cứ để điều tra, làm rõ.

- Đối với Lù Văn Ch: Quá trình điều tra xác định Ch có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 29/07/2025 Công an xã Hua Bum đã tiến hành test nhanh ma túy trong cơ thể Chìn có kết quả dương tính với chất ma túy nhưng do Ch không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) nên không cấu thành tội sử dụng trái phép chất ma túy. Vậy HĐXX không đặt vấn đề giải quyết các vấn đề nêu trên.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).

Tuyên bố bị cáo Lù Văn Ch phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 29/07/2025.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy: Mảnh nilon màu trắng và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được cho vào một phòng bì do bưu điện Việt Nam phát hành sau đó được niêm phong lại: Mặt trước của bì niêm phong có ghi vật chứng còn lại của Lù Văn Ch, sn 1996, trú tại Bản Nà Hừ 2, xã Bum Nưa, tỉnh Lai Châu về hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy". Mặt sau của bì niêm phong được dán kín các mép, một mép dán dọc có ghi đầy đủ chữ ký, họ và tên của Lò Văn Hội, Phan Thị Tâm, Tân A Soang, Đao Văn Sơn và điểm chỉ ngón trỏ phải của Lù Văn Ch. Ở hai đầu gói niêm phong mỗi đầu được đóng một con dấu màu đỏ của Công an xã Bum Tở.

Về trách nhiệm dân sự: Không

Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS và Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo Điều 331; Điều 333 BLTTHS./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa ;
  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND Khu vực 4- Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu (PC03);
  • - Phòng thi hành án dân sự Khu vực 4-Lai Châu;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lý Đức Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HSST ngày 02/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 06/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Lù Văn Chìn phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điều 249 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger