Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUANG BÌNH

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày 5 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Nguyễn Bảo Long
  • - Bà Nông Thị Vân

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Đánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quang Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà: Ông Vi Lương Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 05/3/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/HSST ngày 24/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 21/02/2025 đối với bị cáo:

  • - Trần Đức T; sinh ngày 10 tháng 8 năm 1977, tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nơi ở hiện nay: Thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Đức T1, sinh năm 1954; con bà: Trần Thị H, sinh năm 1955; vợ: Đinh Giang H1, sinh năm 1981 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2011; số CCCD: 0080***10351 cấp ngày 12/9/2022; nơi cấp: Cục C - Bộ C1; tiền án: tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/9/2024 đến ngày 02/10/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
  • Chị Trần Thị Thúy H2, sinh năm 2002, nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nơi ở hiện nay: Thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt.
  • - Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1980, trú tại: Xóm F, xã L, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; văng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 11/9/2024, qua mạng xã hội Facebook Trần Đức T biết tài khoản “Đồ chơi Xuân 2025” có đăng bán pháo hoa, T biết loại không phải do Bộ Q sản xuất, do có nhu cầu mua pháo về để Tết Nguyên đán đốt nên Trần Đức T nhắn tin qua ứng dụng Messenger hỏi giá 18 hộp pháo loại 49 ống thì tài khoản Đồ chơi Xuân 2025 trả lời 18 hộp pháo loại 49 ống giá 14.400.000 đồng cả cước, khi nào nhận được pháo mới trả tiền, T đồng ý và bảo gửi pháo cho T theo số điện thoại 0973.005.xxx địa chỉ nhận là điểm gửi hàng B, khu vực vòng xuyến số 5 tỉnh đội Tuyên Quang, thuộc tổ A, xã C, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Tối ngày 24/9/2024 tài khoản “Đồ chơi Xuân 2025” gọi điện qua ứng dụng Messenger cho T báo pháo đã chuyển đến theo địa chỉ của T, đồng thời mô tả đặc điểm bao tải đựng pháo và nhắn tin gửi số tài khoản để T trả tiền. Đến khoảng 19 giờ ngày 25/9/2024 Trần Đức T mượn xe ô tô BKS 22C – 090.11 của con gái là Trần Thị Thúy H2, sinh năm 2002 đi đến điểm gửi hàng Bắc Nam để lấy pháo. Đến điểm gửi hàng T thấy 01 bao tải bên trong có hộp hình chữ nhật, bên ngoài dán giấy ghi số điện thoại của T giống với đặc điểm mà tài khoản Facebook “Đồ chơi Xuân 2025” đã mô tả nên T biết là bao tải đựng pháo. Sau đó T trả tiền phí gửi hàng cho nhân viên điểm gửi hàng Bắc Nam là 50.000 đồng, tại điểm gửi hàng T gặp một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ là người cũng đến lấy hàng, T đưa cho người đó số tiền 14.400.000 đồng và nhờ chuyển vào tài khoản mà tài khoản Facebook “Đồ chơi Xuân 2025” đã cho, sau khi chuyển tiền xong T cho bao tải đựng pháo lên thùng xe ô tô BKS 22C – 090.11 rồi đi về nhà. Sáng ngày 26/9/2024 T gọi điện rủ Nguyễn Văn L đến nhà T chơi, buổi chiều lên huyện Q, tỉnh Hà Giang chơi uống rượu, L đồng ý. Buổi chiều 26/9/2024 T điều khiển xe ô tô BKS 22C – 090.11 chở L đến thành phố T, tỉnh Tuyên Quang rủ thêm Phạm Quốc H3, Vi Văn L1, Lệnh Thị P cùng lên huyện Q chơi. Do T quên không cất dấu số pháo mua từ tối hôm trước nên trên thùng xe vẫn để bao tải đựng pháo trên xe ô tô, khi đi đến thôn T, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang khoảng 17 giờ cùng ngày thì bị Tổ công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông Công an huyện Q kiểm tra xe ô tô phát hiện trên thùng xe ô tô có 01 bao tải màu đen, bên trong có 01 hộp giấy cứng chứa 18 khối hình hộp kích thước 17 x 17 x 10 cm bên ngoài có nhiều hoa văn, số, chữ nước ngoài, nghi là pháo nổ. Tại biên bản bắt người phạm tội qua tang Trần Đức T khai nhận 18 khối hình hộp là pháo nổ do Trung Quốc sản xuất của T mua trên mạng về để đốt vào tết Nguyên đán.

Tiến hành cân tịnh số pháo thu giữ của Trần Đức T có tổng khối lượng 30 kg.

Ngày 27/9/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 320/QĐ-CQCSĐT đối với 02 khối hình hộp đều có kích thước tương tự nhau (17 x 17 x10 cm) ký hiệu A1, A2 có phải là pháo không, loại pháo gì.

Tại bản kết luận giám định số 363/KL-PC09 ngày 02/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận 02 mẫu vật gửi giám định (ký hiệu A1, A2) đều là pháo nổ (pháo hoa nổ).

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Trần Đức T về tội "Tàng trữ hàng cấm" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Đức T từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

Về trách nhiệm dân sự, vật chứng của vụ án và nghĩa vụ chịu án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với đề nghị của Viện Kiểm sát về tội danh, mức hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trùng khớp với lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Q, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Hà Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 26/9/2024 Trần Đức T có hành vi tàng trữ 01 bao tải màu đen, bên trong có 01 hộp giấy cứng chứa 30 kg pháo nổ nhằm mục đích để đến Tết Nguyên đán mang ra sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị cơ quan chức năng bắt giữ. Do vậy hành vi trên của bị cáo Trần Đức T đã phạm tội Tàng trữ hàng cấm theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự của Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý một số loại hàng hóa mà nhà nước cấm lưu thông, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng pháo nổ là một trong những mặt hàng Nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, tàng trữ và đốt pháo, nhận thức được tác hại nghiêm trọng từ những hành vi tàng trữ, đốt pháo nổ trái phép nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, cần phải xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, cụ thể, ở địa phương bị cáo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, chấp hành tốt theo giấy báo, giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do vậy thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho hưởng án treo cũng đủ để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Đối với người có tài khoản Facebook “Đồ chơi Xuân 2025”, quá trình điều tra chưa xác minh được tên, tuổi, địa chỉ của người bán pháo hoa nổ cho T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã tách tài liệu liên quan khi nào xác định được đối tượng có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật, vì vậy tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không xem xét đến.

[6] Về vật chứng:

[6.1] Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford, loại Ranger, biển kiểm soát 22C – 090.11; 01 Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô BKS 22C – 090.11 là tài sản thuộc quyền sở hữu của chị Trần Thị Thúy H2, chị H2 không biết việc bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã trả lại cho chủ sở hữu, vì vậy tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không xem xét đến.

[6.2] Đối với vật chứng là pháo hoa nổ còn lại sau khi giám định là loại hàng hóa nhà nước cấm lưu thông; 01 chiếc bao tải dứa màu đen; 01 vỏ hộp bìa cát tông hiện được bảo quản tại kho vật chứng Phòng kỹ thuật Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh H là những vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6.3] 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A78, vỏ màu đen thu giữ của Trần Đức T là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội Tàng trữ hàng cấm.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đức T 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Đức T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Tuyên Quang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Trần Đức T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 7 Nghị định 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng pháo, thuốc pháo.

* Giao phòng Cảnh sát điều tra công an tỉnh H xử lý tiêu hủy theo thẩm quyền số vật chứng gồm:

01 thùng cát tông, được niêm phong kín trên có dán dải giấy niêm phong bên ngoài ghi "Mẫu vật còn lại sau cân tịnh vụ Trần Đức T” và chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của UBND thị trấn Y, huyện Q bê trong chứa 16 hộp pháo nổ loại 49 ống có kích thước tương tự nhau (17 x 17 x10 cm), 01 bao tải dứa màu đen, 01 vỏ hộp bìa cát tông.

Tất cả Các vật chứng trên được bảo quản tại Kho vật chứng – Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh H. Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an huyện Q và Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh H ngày 03/10/2024.

* Giao cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang xử lý những vật chứng sau:

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A78, vỏ màu đen đã qua sử dụng.

Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang ngày 23/01/2025.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố Tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Trần Đức T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ngoài ra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình thi hành án có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 7b Luật thi hành án dân sự.

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - Sở Tư pháp Hà Giang;
  • - Phòng PV06, PC10 Công an tỉnh;
  • - VKSND huyện Quang Bình;
  • - CA huyện Quang Bình;
  • - CCTHADS huyện Quang Bình;
  • - UBND xã Đức Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, AV.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Hải Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG về hình sự (tàng trữ hàng cấm)

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đức Thắng phạm tội Tàng trữ hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger