trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HSCTN-PT

Ngày: 28 - 3 -2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Duy

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hiệp

Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh An - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Hồ Kim Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự chưa thành niên phúc thẩm thụ lý số: 31/2024/HS-PT ngày 21/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXPT-HS ngày 10 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Lê Mã L cùng đồng bọn, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS- ST ngày 09/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Lê Mã L, sinh ngày 25/4/1994 tại huyện P, tỉnh Bình Định; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoài L1 (chết) và bà Nguyễn Thị K; Vợ, con: Chưa có, tiền án, tiền sự; Không.

Về nhân thân: Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2024 đến ngày 10/5/2024, thì huỷ bỏ biện pháp tạm giam. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  1. Huỳnh Kim S, sinh ngày 17/6/2001 tại huyện P, tỉnh Bình Định; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn G, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe, trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Kim C và bà Nguyễn Thị Hồng H; Vợ, con: Nguyễn Thị Mỹ T; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 30/01/2024 đến ngày 10/5/2024 thì huỷ bỏ biện pháp tạm giam, hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên Toà.
  2. Nguyễn Duy P, sinh ngày 10/3/1992 tại huyện P, tỉnh Bình Định; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Thợ cơ khí, trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Lê Thị N; Vợ, con: Chưa có, tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến ngày 10/5/2024 thì huỷ bỏ biện pháp tạm giam, hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên Toà.

Ngoài ra vụ án cón có 06 bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên HĐXX không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 17/8/2023, Huỳnh Kim S; Nguyễn Duy P; Đỗ Đường Đ cùng Lê Công T1, Huỳnh Thế N1, Nguyễn Thị T2, và Phan Thành T3, đến hát tại phòng số 4 của quán K3 thuộc khu phố D, thị trấn B, huyện P, tỉnh Bình Định (do Nguyễn Thị T4 làm chủ). Cùng hát trong phòng V có 03 tiếp viên nữ gồm: Phạm Thị Thanh T5, Đặng Thị Thu S1, Bùi Thị C1. Đồng thời lúc này, tại phòng số 03 của quán K3 có nhóm thanh niên ở xã M, huyện P, tỉnh Bình Định đang hát gồm: Trương Văn Đ1, Huỳnh Thanh M, Lê Mã L, Nguyễn Anh M1, Đặng Đồng Thái K1 và Huỳnh Lê Minh T6. Khi đó, T3 đi ra bên ngoài để nghe điện thoại thì gặp Hoàng Ngọc T7, đến quán K3 để trả tiền nợ. Trong lúc T3 và T7 đang nói chuyện thì T7 gặp T6, do T7 quen biết T6 khi đang chấp hành án tại Trại giam K4 nên T6 mời T7 và T3 vào phòng số 03 để uống ly bia. Được T6 mời vào phòng số 3 nên T7 và T3 đi vào phòng số 3 uống bia với T6 và những người thanh niên nhóm ở xã M. Sau khi uống bia tại phòng số 3 thì T3 nói và mời T6, T7 cùng với nhóm thanh niên ở xã M qua phòng số 4 để giao lưu (tức uống bia). Sau đó thì M cùng với T7 đi cùng với T3 qua phòng số 4 để mời bia giao lưu. Sau khi mời bia giao lưu xong thì M và T7 về lại phòng số 3 tiếp tục hát và uống bia. Sau đó, T7 có công việc nên đi về trước. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, nhóm thanh niên ở xã M gồm các bị cáo: Đ1, M1, T6, L, K1, M hát ở phòng số 03 nghỉ hát. Cùng lúc này, T3 không hát nữa mà đi ra về. Khi T3 đi ra khỏi thì gặp các bị cáo: Đ1, M1, T6, L, K1, M đang đứng tính tiền ở quầy nên T3 thấy vậy đi lại nói và mời Đ1, M1, T6, L, K1, M đi vào phòng số 4 để uống bia giao lưu. Khi đó, Đ1 cùng với M1, M, T6 đi cùng với T3 vào phòng số 4 còn L và K1 đi ra ngoài trước quán đứng. Sau khi T3 dẫn Đ1, M1, M, T6 vào phòng giao lưu uống bia xong thì T3 có việc nên đi về trước. Khi đó, Đ1 cùng với M1, M, T6 vẫn còn ở trong phòng số 4. Sau khi uống bia giao lưu thì M1 và M đi ra khỏi đứng bên ngoài cửa ra vào, còn Đ1 và T6 vẫn còn ở trong phòng số 4. Khi đó, tại phòng số 4 còn có bị cáo S, và bị cáo P, N1, T2 và 03 tiếp viên nữ gồm T5, C1, S1 riêng bị cáo Đ và T4 đang đi vệ sinh. Lúc này, Đ1 tiếp tục cầm ly bia trên tay để mời S uống thì giữa Đ1 và S xảy ra mâu thuẫn cải vả to tiếng qua lại rồi Đ1 dùng ly bia đang cầm trên tay ném vào người S và xông vào dùng tay chân đánh S, lúc này S dùng ly bia ném lại người Đ1 và dùng tay chân đánh lại Đ1. Khi đó, N1 đang đứng hát trên bục thì thấy Đ1 và S đang đánh nhau nên N1 đi lại can ngăn và đẩy Đ1 ra. Lúc này, Đ đi vệ sinh xong đi ra thì thấy nhóm của mình đang đánh nhau, nhưng Đ không tham gia đánh nhau và cũng không can ngăn. Cùng lúc này, Bị cáo M1 và M đang ở trước cửa ra vào phòng số 4 nghe cải vả to tiếng nên đi vào bên trong thì thấy Đ1, T6 đang đánh nhau với S. Thấy vậy, M1 xông vào đánh bị cáo Đ và kéo bị cáo Đ ra khỏi phòng, nhưng bị cáo Đ không đánh lại. Cùng lúc này, N1 và T6 đẩy bị cáo Đ1 ra khỏi phòng, thấy vậy 03 tiếp viên nữ gồm T5, C1, S1 cũng bỏ chạy ra ngoài. Lúc này tại phòng còn lại bị cáo S, bị cáo P, bị cáo M và T2. Lúc này các bị cáo S, P, M tiếp tục xông vào đánh nhau lộn xộn qua lại tại phòng. (Trong lúc các bị cáo M1, M, Đ1, T6 đánh nhau qua lại với bị cáo S, và bị cáo P tại phòng số 4 làm hư hỏng tài sản gồm: Tivi nhãn hiệu DARLING 50 “LED TV” Model: 50HD900T2, màu đen, ti vi bị rạn nứt màn hình; bị bể 02 cái ly nhựa và bị bể 01 cái dĩa nhựa; bị bể 02 tấm alu có dán đề can dùng làm trang trí bàn hát karaoke). Cùng lúc đó, Đ1, T6, M1 dùng tay chân đánh vào người N1 và Đ trước cửa ra vào phòng số 4 do bị đánh cho nên Đ tung bỏ chạy ra ngoài đường trước quán thì liền bị M1, Đ1, T6 tiếp tục rượt đuổi theo để đánh tiếp, thấy vậy N1 cũng bỏ đi theo ra ngoài trước quán. Khi thấy M1, Đ1, Tiến rượt đuổi đánh Đ ra khỏi quán thì T4 (chủ quán) lo sợ những người này tiếp tục quay lại quán để đánh nhau nữa nên T4 đóng cửa quán lại. Riêng M còn ở lại trong phòng số 4 cùng với S, P và T2, sau đó thì T4 đi vệ sinh xong đi ra phòng số 4 rồi cùng với S, P, T2 đi lại chỗ quầy tính tiền và M cũng đi lại đứng gần đó. Khi đó, L và K1 đang đứng trước quán thấy Đ1 cùng với M1, T6 chạy bộ rượt đuổi đánh Đ, N1 nên L, K1 cùng chạy theo Đ1, M1, T6 để đánh Đ và N1 trên đường X. Khi Đ1, M1, T6, L, K1 chạy rượt đuổi theo Đ, N1 trên đường X được một đoạn thì đuổi theo kịp Đ và N1 nên Đ1, M1, T6, L, K1 dùng tay, chân đánh đá liên tục vào người của Đ, N1 và la ó to tiếng. Trong lúc Đ và N1 bị Đ1, M1, T6, L dùng tay, chân đánh đá liên tục vào người thì Đ tung bỏ chạy thoát được theo đường X về hướng N. Khi đó, Đ1 cùng với M1, T6, L, K1 dẫn N1 đi bộ quay lại quán karaoke Minh T8 mục đích là để cho N1 gọi T4 (chủ quán) mở cửa ra để cho M đi ra bên ngoài (vì trước đó M còn ở lại trong quán). Trên đường dẫn N1 đi lại quán karaoke thì K1 có lụm cầm cục gạch trên tay với mục đích là để đánh N1 nhưng lúc này, M1, Đ1, T6, L tiếp tục đánh N1 nên K1 bỏ cục gạch xuống đường. Khi Đ1, T6, M1, L, K1 dẫn N1 đi lại đứng trước cửa ra vào quán yêu cầu N1 gọi T4 (chủ quán) mở cửa ra thì khi đó Đ1, T6, M1, L vẫn tiếp tục dùng tay, chân đánh đá liên tục vào người của N1. Do bị đánh nên N1 gọi T4 (chủ quán) mở cửa để cho M ra ngoài. Khi đó, T4 (chủ quán) mở cửa ra thì M bỏ chạy ra bên ngoài đường trước quán và đứng ở đó cùng với Đ1, T6, M1, L, K1. Sau đó, thì M cùng Đ1, T6, K1, L, M1 giải tán đi về xã M. Lúc đó, khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, sự việc từ khi diễn ra đến khi kết thúc thì xảy ra khoảng 30 phút.

- Hậu quả:

  • + Huỳnh Thế N1 và Đỗ Đường Đ bị thương tích điều trại tại Bệnh viện Đ2 từ ngày 17/8/2023 đến ngày 23/8/2023 thì xuất viện. Đến ngày 28/8/2023 N1 và Đ có Đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và cho đi giám định thương tích.
  • + Huỳnh Thanh M bị thương tích điều trị tại Trung tâm y tế huyện P từ ngày 21/8/2023 đến ngày 24/8/2023 thì xuất viện. Đến ngày 28/9/2023 M có Đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và cho đi giám định thương tích.
  • + Tại phòng số 4 quán hát karaoke Minh T8 bị hư hỏng gồm: 01 (một) ti vi nhãn hiệu DARLING 50 "Led TV" Model: 50HD900T2, màu đen, bị hư hỏng màn hình; 02 (hai) cái ly nhựa và 01 (một) cái đĩa nhựa màu trắng đều bị vỡ không còn nguyên vẹn; 02 (hai) tấm alu có dán đề can dùng làm trang trí bàn hát karaoke.

Ngày 20 tháng 11 năm 2023 Trung tâm pháp y tỉnh B có kết luận giám định thương tích: Tổng tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Thế N1 tại thời điểm giám định là: 03% (ba phần trăm).

Ngày 22 tháng 11 năm 2023 Trung tâm pháp y tỉnh B có kết luận giám định thương tích: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Đường Đ tại thời điểm giám định là: 04% (Bốn phần trăm).

Ngày 29 tháng 11 năm 2023 Trung tâm pháp y tỉnh B có kết luận giám định thương tích: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Thanh M tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm).

Ngày 07 tháng 11 năm 2023 Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện P có kết luận định giá tài sản, cụ thể:

Tài sản 1: 01 ti vi nhãn hiệu DARLING 50"Led TV" Mode 50HD900T2, màu đen bị hư hỏng màng hình, thời điểm định giá tháng 8/2023, có giá: 4.250.000 đồng (Chi phí sửa chữa đã bao gồm tiền công và phụ tùng thay thế).

Tài sản 2: 01 tấm alu có dán đề can, kích thước 0,9m², dùng làm trang trí bàn hát karaoke tấm này bị hư hỏng, kích thước (25 x15) cm, thời điểm định giá tháng 8/2023, có giá: 700.000 đồng/m² x 0,9m² = 630.000 đồng (Chi phí sửa chữa đã bao gồm tiền công và vật liệu thay thế).

Tài sản 3: 01 tấm alu có dán đề can, kích thước 0,9m², dùng làm trang trí bàn hát karaoke tấm này bị hư hỏng, kích thước (22 x15) cm, thời điểm định giá tháng 8/2023, có giá: 700.000 đồng/m² x 0,9m² = 630.000 đồng (Chi phí sửa chữa đã bao gồm tiền công và vật liệu thay thế).

Tài sản 4: 02 ly nhựa có hiệu Plasy Clean bị bể hoàn toàn, có giá: 7.000 đồng/1ly x 2 Iy = 14 đồng và 01 cái dĩa nhựa màu trắng bị bể hoàn toàn, có giá: 17.500 đồng/cái (hiện tại đang bị tạm giữ tại Công an huyện), thời điểm định giá tháng 8/2023, tổng cộng: 14.000 đồng + 17.500 đồng = 31.500 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là: 5.541.500 (Bằng chữ: Năm triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm đồng).

- Về vật chứng thu giữ:

  • + Ngày 10/01/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện P trả lại tài sản cho chị Nguyễn Thị T4 gồm: 01(một) Tivi nhãn hiệu DARLING 50 “LED TV” Model: 50HD900T2, màu đen, ti vi tình trạng bị hư hỏng màng hình; 01(một) cái ly nhựa có hiệu Plassy clear, ly tình trạng bị vỡ không còn nguyên vẹn; 01(một) cái ly nhựa bị vỡ không còn nguyên vẹn; 01(một) cái dĩa nhựa màu trắng kiểu dáng hình chiếc lá, tình trạng bị vỡ không còn nguyên vẹn. (Bút lục số: 125, 126).
  • + Riêng cái kéo và cục gạch Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thu giữ được

- Về dân sự:

  • + Nguyễn Thị T4 đã nhận số tiền 13.000.000 đồng, trong đó: bị cáo M1, Đ1, M, L, T6 mỗi người bồi thường số tiền 2.000.000 đồng; bị cáo K1, S, P1 mỗi người bồi thường 1.000.000 đồng nên chị T4 không có yêu cầu bồi thường về phần dân sự.
  • + Huỳnh Thế N1 yêu cầu bồi thường số tiền 4.000.000 đồng (trong đó: chi phí tiền thuốc men, đi lại số tiền 2.687.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần 1.313.000 đồng).
  • + Đỗ Đường Đ yêu cầu bồi thường số tiền 6.791.000 đồng (trong đó: chi phí tiền thuốc men, đi lại số tiền 2.791.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần 4.000.000 đồng).
  • + Huỳnh Thanh M không yêu cầu gì về dân sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2024/HS- ST ngày 09/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã quyết định:

  • - Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Trương Văn Đ1, Huỳnh Lê Minh T6, Lê Mã L, Huỳnh Kim S và Nguyễn Duy P.
  • - Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Huỳnh Thanh M.
  • - Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Anh M1.
  • - Căn cứ Điểm b, khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đặng Đồng Thái K1.
  • -Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đỗ Đường Đ.
  • -Căn cứ vào Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • -Căn cứ vào Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh:

    - Tuyên bố các bị cáo Lê Mã L, Huỳnh Kim S, Nguyễn Duy P, phạm tội “Gây rối trật tự công cộng ”.

  2. Về hình phạt:
    1. Xử phạt bị cáo Lê Mã L 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2024 đến ngày 10/5/2024.
    2. Xử phạt bị cáo Huỳnh Kim S 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2024 đến ngày 10/5/2024.
    3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy P 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến ngày 10/5/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Trương Văn Đ1, Huỳnh Thanh M và Huỳnh Lê Minh T6 mức hình phạt từ 27 đến 30 tháng tù. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh M1, Đặng Đồng Thái K1 và Đỗ Đường Đ mức hình phạt từ 09 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, tuyên về xử lý vật chứng, bồi thường thiệt hại, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Cùng ngày 20/9/2024, bị cáo Lê Mã L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Các bị cáo Nguyễn Duy P và Huỳnh Kim S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Mã L xin rút toàn bộ kháng cáo. Các bị cáo Nguyễn Duy P và Huỳnh Kim S giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu quan điểm: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 342 và Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Mã L. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Duy P và Huỳnh Kim S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Khoảng 20 giờ ngày 17/8/2023, nhóm thanh niên gồm các bị cáo: Trương Văn Đ1, Nguyễn Anh M1, Huỳnh Lê Minh T6, Huỳnh Thanh M, Lê Mã L và Đặng Đồng Thái K1 và nhóm thanh niên gồm các bị cáo Huỳnh Kim S, Nguyễn Duy P, Đỗ Đường Đ và Huỳnh Thế N1, hát karaoke tại quán K3 của chị Nguyễn Thị T4. Do quen biết từ trước nên hai bên qua lại gặp nhau mời bia giao lưu. Trong lúc uống bia giao lưu, thì giữa bị cáo Đ1 và bị cáo S xảy ra mâu thuẫn dẫn đến nhóm bị cáo: Đ1, M1, T6, M và nhóm bị cáo P, S hai bên dùng võ chai bia, ly nhựa, tay chân đánh nhau qua lại và 02 bên đã phá phách làm hư hỏng tài sản phòng hát (số D) số tiền 5.541.000 đồng, đồng thời la hét gây hỗn loạn mất trật tự trong quá Karaoke, làm mọi người trong quán K3 lo sợ bỏ chạy tán loạn. Sau đó bị cáo Đ1, M1, T6, L, K1 (K1 có cầm gạch) rượt đuổi đánh bị cáo Đ, N1 và la ó, hò hét lớn tiếng trước quán K3 trên đường X về hướng N trong một thời gian dài. Hành vi của các bị cáo đã làm hư hỏng một số tài sản của quán K3, đồng thời gây náo loạn, ồn ào, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của quán, làm quán phải nghỉ hoạt động, gây mất an ninh trật tự và gây hoang mang cho người dân đang sinh sống, sinh hoạt tại khu dân cư. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Lê Mã L, Nguyễn Duy P, Huỳnh Kim S cùng với các bị cáo khác về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Mã L rút toàn bộ kháng cáo. Căn cứ các Điều 342 và Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Mã L.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Duy P và Huỳnh Kim S, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc uống bia, hát Karaoke các bị cáo Huỳnh Kim S và Nguyễn Duy P cũng với các bị cáo khác đã có hành vi dùng hung khí là võ chai, ly uống bia, dùng tay đánh nhau, đập phá tài sản người khác, rượt đuổi đánh nhau trên đường, la hét gây náo loạn, ồn ào, mất an ninh trật tự nơi công cộng. Hành vi của các là nguy hiểm cho xã hội, diễn ra tại khu vực đông dân cư, trên đường quốc lộ có nhiều phương tiện đi lại đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự của địa phương. Các bị cáo thực hiện hành vi với vai trò là người thực hành tích cực, trực tiếp tham gia đánh nhau gây rối trật tự công cộng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Các bị cáo Huỳnh Kim S và Nguyễn Duy P đã liên đới cùng với một số bị cáo khác bồi thường số tiền 13.000.000đ để khắc phục hậu cho chị T4, anh P, là tài sản trong quán K3 mà các bị cáo đã đập phá. Xét thấy, khi quyết định mức hình phạt, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ và xem xét về nhân thân của các bị cáo để xử phạt các bị cáo Huỳnh Kim S và Nguyễn Duy P mỗi bị cáo với mức hình phạt 24 tháng tù, bằng với mức khởi điểm của khung hình phạt mà các bị cáo bị truy tố là tương xứng với hành vi và hậu quả do các bị cáo đã gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới để xem xét giảm nhẹ hình phạt, nên không có căn cứ để giảm nhẹ thêm mức hình phạt cho các bị cáo. Do đó, HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Kim S và Nguyễn Duy P không được chấp nhận, nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bịkháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào Điều 342 và Điều 348; điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Huỳnh Kim S và Nguyễn Duy P.
  • - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Mã L
  2. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Kim S và Nguyễn Duy P, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo.
  3. Xử phạt bị cáo Huỳnh Kim S 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian bị cáo đã bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2024 đến ngày 10/5/2024.
  4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy P 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian bị cáo đã bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến ngày 10/5/2024.
  5. Về án phí hình sự phúc thẩm:

    Các bị cáo Huỳnh Kim S và Nguyễn Duy P mỗi người phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

  6. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  7. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1.TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - TA huyện Phù Mỹ;
  • - VKS huyện Phù Mỹ;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Bình Định;
  • - Chi cục THADS huyện Phù Mỹ;
  • - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Bình Định;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Văn Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HSCTN-PT ngày 28/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự phúc thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 06/2025/HSCTN-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hspt
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger