Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN CẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày: 24-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hoài Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Hòa Nhẫn – Hiệu phó trường THCS thị trấn Bến Cầu.

Bà Lê Thị Sinh Phương – Trung tâm y tế Huyện Bến Cầu.

Thư ký phiên toà: Ông Vương Quốc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Nhiều – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 103/HS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/HSST-QĐ, ngày 16/01/2025 đối với bị cáo:

1. Phạm Thị Kim A (tên gọi khác Trần Khánh L), sinh ngày 02/9/2003 tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khu phố B, phường B, Thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp B, xã B, Thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tấn H (Đã chết) và bà Nguyễn Thị L1 (Đã chết); chồng, con: chưa có; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị cáo bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 10/7/2024 đến nay. Có mặt.

Bị hại: Em Giáp Minh Đ, sinh năm 2007, ngụ ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).

Người đại diện của bị hại: Bà Phan Thị Ngọc N – Bí thư đoàn Thanh niên thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

Người đại diện của em Giáp Minh Đ: ông Nguyễn Hoàng Trọng T, sinh năm: 2003. Địa chỉ: ấp A A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 5/2023, Phạm Thị Kim A sang Thành phố B, tỉnh Svay Rieng, Campuchia vào làm việc tại các công ty lừa đảo do người Trung Quốc làm chủ như: Công ty T1, K, Tam Thái Tử M, K và V. Trong quá trình làm việc, Kim A đăng bài tuyển dụng trên mạng xã hội Facebook tên “Hồng Al” để tuyển dụng người Việt Nam sang Campuchia làm việc nhẹ lương cao với mục đích bán cho các công ty lừa đảo. Quá trình tìm kiếm, tuyển mộ người, Kim A phát hiện tài khoản Facebook tên “Đặng Minh C” là của em Giáp Minh Đ sinh năm 2007, ngụ ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương, Kim A nhắn tin lừa gạt, dụ dỗ Đ sang Campuchia làm việc nhưng Đ không đi. Đến khoảng tháng 5/2024, Kim A được người đàn ông tên Ngọc A2 (không rõ lai lịch) bỏ ra số tiền 1.500USD để mua Kim A từ công ty lừa đảo khác về làm việc ở Công ty "” tại Thành phố B, tỉnh Svay Rieng, Campuchia. Để có tiền trả nợ, Kim A tiếp tục làm công việc tuyển mộ người cho công ty lừa đảo của Ngọc A2 và được Ngọc A2 hứa hẹn nếu mỗi lần tuyển mộ được 01 người, Kim A sẽ được trừ 300USD vào số tiền nợ. Lúc này, Kim A sử dụng Facebook cá nhân tên “Pé Su Baokin” có ảnh đại diện của Kim A để tiếp tục nhắn tin lừa gạt, dụ dỗ Đ sang Campuchia bán vào công ty lừa đảo của Ngọc A2. Khi Đ đồng ý thì Kim A chuyển thông tin của Đ cho người đàn ông tên H1 (không rõ lai lịch) là tổ trưởng của Công ty “Đông Thái” để Hoàng liên L2 đưa Đ sang Campuchia.

Đến ngày 27/5/2024, Đ được Hoàng đón từ khu vực Ngã tư Hữu Nghị thuộc ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh đi đường tiểu ngạch xuất cảnh trái phép sang Campuchia vào công ty lừa đảo của Ngọc A2 làm việc. Khi phát hiện công ty hoạt động lừa đảo, Đ không đồng ý làm việc thì bị Hoàng buộc Đ phải bồi thường số tiền 3000USD và đe dọa sẽ đánh đập, bán Đ cho công ty lừa đảo khác, Đ lo sợ nên đã liên lạc vào số điện thoại đường dây nóng của cơ quan chức năng tại Campuchia để giải cứu Đ. Sau đó, Đ và Kim A được lực lượng chức năng Campuchia đưa ra khỏi công ty của Ngọc A2. Đến ngày 09/7/2024, Đ và Kim A được trao trả về Việt Nam qua Cửa khẩu Quốc tế M1 thuộc ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh và Đ tố giác hành vi mua bán người của Kim A. Tại Cơ quan điều tra, Phạm Thị Kim A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

* Tại Kết luận giám định số 1422/KL-KTHS ngày 05/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu trong điện thoại gồm: nhật ký cuộc gọi, tin nhắn văn bản (SMS), tin nhắn, cuộc gọi zalo; messenger; Telegram có trong điện thoại ký hiệu A từ ngày 01/01/2024 đến nay. Chi tiết trong file đính kèm (MD5: AA2A9F8B2B1A1EEF4279709D30BF60C2 file đính kèm kl1422.rar), dung lượng 148 MB (155,964,450 bytes) lưu trong 01 đĩa DVD.

* Kết quả kiểm tra 01 đĩa DVD: Nội dung thể hiện việc bị hại Giáp Minh Đ trao đổi thông tin nhắn tin với Phạm Thị Kim A về việc sang Campuchia làm việc. Ngoài ra, không phát hiện tài liệu, dự liệu nào khác có có liên quan đến vụ án.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Infinix Hot 30i, màu xanh đen, số imel 357413226207268 (đã qua sử dụng).

Kê biên tài sản: bị cáo Phạm Thị Kim A không có tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B không kê biên tài sản.

Đối với người đàn ông tên Ngọc A2 và người đàn ông tên H1 do không rõ nhân thân, lai lịch, các đối tượng sinh sống tại Campuchia, chưa làm việc được nên không có căn cứ xem xét xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 108/CT-VKS-BC ngày 04 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu đã truy tố Phạm Thị Kim A về tội “Mua bán người ” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 150 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Phạm Thị Kim A đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 150; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Thị Kim A từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán người ”. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng đã thu giữ trong vụ án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Phạm Thị Kim A thống nhất nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh nên không có ý kiến bào chữa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Giáp Minh Đ trình bày: Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến các quyền cơ bản của con người, coi con người như một món hàng để thực hiện mua bán với mục đích thu lợi nhuận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử về tội danh và mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo Phạm Thị Kim A thừa nhận hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và áp dụng điều luật: Ngày 27/5/2024, Phạm Thị Kim A đã tuyển mộ, lừa gạt, dụ dỗ đưa em Giáp Minh Đ ra khỏi lãnh thổ của N1 bán lại cho Công ty “Đông Thái” tại Campuchia để hưởng lợi số tiền 300USD. Do đó, hành vi của Phạm Thị Kim A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán người ” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 150 của Bộ luật Hình sự như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3] Đánh giá tính chất hành vi tội phạm: Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, biết chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác là pháp luật nghiêm cấm nhưng vì vụ lợi mà bị cáo cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm và quyền con người. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự để xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[4] Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về áp dụng hình phạt: xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung.

[7] Đối với người đàn ông tên Ngọc A2 và người đàn ông tên H1 do không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên chưa làm việc được, không có căn cứ xử lý.

[8] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Infinix Hot 30i, màu xanh đen, số imel 357413226207268 (đã qua sử dụng) là phương tiện bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

* Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại Giáp Minh Đ yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 60.000.000 đồng. Tuy nhiên, xét về thiệt hại do một phần lỗi chủ quan của bị hại nên yêu cầu bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần được xem xét chấp nhận một phần.

[9] Về án phí: bị cáo Phạm Thị Kim A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Phạm Thị Kim A phạm tội “Mua bán người”.

1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 150; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị Kim A 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 10/7/2024.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Thị Kim A.

2. Vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Infinix Hot 30i, màu xanh đen, số imel 357413226207268 (đã qua sử dụng).

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh).

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 592 của Bộ luật dân sự buộc bị cáo Phạm Thị Kim A bồi thường tổn thất tinh thần cho Giáp Minh Đ số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: bị cáo Phạm Thị Kim A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Án hình sự sơ thẩm xử công khai, bị cáo Phạm Thị Kim A được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Giáp Minh Đ, người đại diện ông Nguyễn Hoàng Trọng T, bà Phan Thị Ngọc N được quyền kháng cáo trong thời hàn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp pháp.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng kiểm tra nghiệp vụ TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Bến Cầu;
  • - Công an huyện Bến Cầu;
  • - Nhà tạm giữ;
  • - Chi cục THADS huyện Bến Cầu;
  • - Phòng lý lịch Sở tư pháp tỉnh;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoài Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về mua bán người

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Kim A phạm tội mua bán người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger