Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH HƯNG

TỈNH LONG AN

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày 21 - 3 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Liễu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Danh Văn Hoàng

Ông Nguyễn Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 27 tháng 7 năm 1976 tại thị xã T, tỉnh Ang Giang; Tên gọi khác: Không có; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 3/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1955 (đã chết) và bà Trần Thị C, sinh năm 1957 (đã chết); Vợ: Lê Thị T1, sinh năm 1976; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án: không; Tiền sự: không; Về nhân thân: Chưa có ghi nhận về các vi phạm khác. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/9/2024 đến ngày 16/11/2024, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Phạm Thanh S, sinh ngày 17 tháng 10 năm 1992 tại T, Đồng Tháp; Tên gọi khác: Không có; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: tài xế; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn S1, sinh năm 1971 và bà Mai Thị H, sinh năm 1970; Vợ: Nguyễn Hồng T2, sinh năm 1994 (đã ly hôn); có 01 người con sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Chưa có ghi nhận về các vi phạm khác.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/9/2024 đến ngày 16/11/2024, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Văn Ngọc A, sinh năm: 1979. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An (vắng mặt).
  2. Ông Đặng Thái H1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Cáo trạng số 03/CT-VKSVH ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Thanh S2 về tội “Buôn lậu” theo quy định tại khoản 1 Điều 188 Bộ luật Hình sự, với hành vi được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/7/2024, bị cáo T sang Campuchia gặp người tên H2 mua 15 con bò (08 con bò trắng – bò T3 và 07 con bò cóc –lông vàng) với giá 70.000.000 đồng về ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Long An nuôi vỗ béo bán lại kiếm lời. Do các trạm, chốt Biên phòng trên tuyến biên giới huyện T, tỉnh Long An canh gát nghiêm ngặt nên T thuê người tên H3 ở Campuchia chở bò bằng ô tô tải đến gần chốt Biên phòng thuộc ấp T, xã T, V, Long An, giá 1.900.000 đồng.

Lúc 13 giờ 49 phút ngày 21/7/2024, bị cáo T sử dụng điện thoại số 0338.658.xxx gọi cho bị cáo S2 số điện thoại số 0977.117.xxx thuê xe ô tô tải biển số 66C-109.71 vận chuyển bò từ Campuchia về ấp C, xã H với giá tiền 1.200.000đ. Đến 16 giờ 14 phút cùng ngày, bị cáo S2 điều khiển xe ô tô tải biển số 66C-109.71 đến gần chốt Biên phòng ấp T, bị cáo S2 cho xe rẽ trái chạy sang phần đất Campuchia để nhận 14 con bò (còn lại 01 con do chở không hết nên gửi lại chuồng của Ngọc A) do hai người Campuchia chuyển sang. Nhận bò xong bị cáo S2 lái xe ô tô đi theo đường ấp L, xã T đến cầu K thuộc xã V thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an huyện V dừng xe kiểm tra lúc 17 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo S2 không xuất trình được tờ chứng minh nguồn gốc số bò trên nên bị bắt giữ.

Tại biên bản kiểm tra, xác định trọng lượng 14 con bò bị tạm giữ vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 22/7/2024 xác định tổng trọng lượng của 14 con bò bị tạm giữ là 2.220kg, trong đó 02 con bò đã chết có trọng lượng là 200kg. Đối với con bò gửi tại chuồng của Ngọc A thì đã chết, không thu giữ được.

Kết luận định giá số 140/KL-HĐĐG ngày 26/7/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: “12 con bò còn sống có tổng trọng lượng 2.020kg với giá trị là 113.120.000 đồng; 02 con bò chết trọng lượng 200kg đã tiêu hủy, không còn hiện trạng, không có cơ sở xác định giá”.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Thanh S phạm tội “Buôn lậu”. Cùng áp dụng khoản 1 Điều 188, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng; xử phạt bị cáo Phạm Thanh S từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng. Do các bị cáo bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng của vụ án: 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, số loại FRONTIER, màu sơn trắng, biển số 66C-109.71, số máy J001555D4CB, số khung 5KHBKC094162; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số IMEI: 358589290745595/358589290745603, đã qua sử dụng, gắn sim số 0977.117.970; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A38, màu đen, số IMEI: 863017065715799/863017065715781, đã qua sử dụng, gắn sim số 0338.658.520 sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội nên đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 14 con bò khi bị bắt giữ thì đã chết 01 con, ngày hôm sau chết thêm 01 con. Còn lại 12 con bò, do không đủ điều kiện để chăm sóc nên lần lượt chết. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V lập biên bản ghi nhận số bò đã chết và thực hiện tiêu hủy theo quy định pháp luật.

- Ý kiến của các bị cáo: Các bị cáo thống nhất hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố trong cáo trạng. Trong quá trình điều tra, truy tố và đến khi xét xử bị cáo đều tự nguyện khai báo, không bị ép cung, nhục hình.

- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngọc A vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai trong hồ sơ thể hiện: ông xác định lại 14 con bò bị cơ quan công an bắt giữ ngày 21/7/2024 không phải là bò của ông bán cho bị cáo T nhưng ban đầu ông khai là của ông bán vì trước đó ông có 2-3 lần bán bò cho bị cáo T, sáng cùng ngày bị cáo T bị bắt ông cũng có bán 14 con bò nên dẫn đến nhầm lẫn. Ông khẳng định số bò của bị cáo T bị bắt giữ là không liên quan gì đến ông, ông không có yêu cầu gì trong vụ án.

- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H1: ông và bị cáo S là bà con bạn dì ruột, chiếc xe biển số 66C-109.71 là của ông nhưng từ năm 2021 do dịch bệnh Covid, không làm ăn được nên ông đã cho bị cáo S mượn (không làm giấy tờ) để vận chuyển hàng hóa và chở dàng nhạc. Sau này xe vẫn để ở nhà bị cáo S, khi nào có người thuê thì bị cáo S sẽ gọi điện hỏi mượn xe. Từ trước đến giờ, việc cho mượn xe không có thu tiền mà thỉnh thoảng bị cáo S có đưa ông vài trăm nghìn. Sáng ngày 21/7/2024, bị cáo S có hỏi ông mượn xe và được ông đồng ý nhưng việc S sử dụng xe để chở bò nhập lậu ông hoàn toàn không biết. Ông xin nhận lại xe để vận chuyển hàng hóa kiếm sống.

Thực hiện quyền được nói lời sau cùng các bị cáo nói:

Bị cáo Thật: Xin xem xét cho bị cáo hình phạt nhẹ.

Bị cáo S: do không hiểu biết về pháp luật nên xin xem xét cho bị cáo hình phạt nhẹ, cho bị cáo được nhận lại xe để trả cho ông H1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Thanh S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo, phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ. Bị cáo T vì muốn có lợi nhuận nên đã sang Campuchia mua 15 con bò (đã chết 01 con và không thu giữ được) về để nuôi vỗ béo bán kiếm lời; bị cáo S khi điều khiển xe ô tô tải biển số 66C-109.71 đến khu vực chốt biên phòng ấp T và cho xe rẻ trái đi sang phần đất Campuchia thì bị cáo S đã biết rõ số bò trên của ông T mua từ Campuchia về nhưng vẫn tiếp tục thực hiện việc chở bò về ấp C, xã H với giá tiền 1.200.000 đồng. Khi bị lực lượng chức năng bắt giữ tại cầu K thuộc xã V, huyện V, tỉnh Long An, các bị cáo không xuất trình được hóa đơn, chứng từ hợp pháp. Kết luận định giá số 140/KL-HĐĐG ngày 26/7/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện V đã kết luận: “12 con bò còn sống có tổng trọng lượng 2.020kg với giá trị là 113.120.000 đồng; 02 con bò chết trọng lượng 200kg đã tiêu hủy, không còn hiện trạng, không có cơ sở xác định giá”. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn lậu”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 188 Bộ luật Hình sự.

[3] Đây là vụ án đồng phạm nhưng còn ở mức độ giản đơn. Các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo đủ nhận thức về việc mua bán hàng hóa qua biên giới là vi phạm pháp luật. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại, gây thiệt hại cho nền kinh tế nước nhà. Do đó cần có hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để giáo dục răn đe các bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Trong vụ án này, bị cáo T và bị cáo S đều trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, trong đó bị cáo T với vai trò chính là người trực tiếp mua 15 con bò từ Campuchia và thuê bị cáo S vận chuyển bò từ Campuchia về ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Long An, bị cáo S thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức nên bị cáo T phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo S.

[4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự được xem xét áp dụng đối với bị cáo như sau:

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần được xem xét áp dụng cho các bị cáo khi lượng hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Từ các phân tích nêu trên, xét điều kiện về kinh tế của các bị cáo, bị cáo T làm ruộng, bị cáo S làm nghề tài xế và phụ giúp gia đình làm ruộng, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có đủ điều kiện được áp dụng hình phạt tiền, đồng thời, việc áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đảm bảo mục đích giáo dục ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, đồng thời đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, thể hiện tính răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Theo quy định tại khoản 5 Điều 188 Bộ luật Hình sự: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tuy nhiên trong vụ án này, các bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tiền nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử khẳng định Cáo trạng số 03/CT-VKSVH ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Thanh S về tội “Buôn lậu” theo quy định tại khoản 1 Điều 188 Bộ luật Hình sự và đề nghị áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[5] Về vật chứng của vụ án gồm 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, số loại FRONTIER, màu sơn trắng, biển số 66C-109.71, số máy J001555D4CB, số khung 5KHBKC094162 dùng làm phương tiện vận chuyển bò trái phép; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số IMEI: 358589290745595/358589290745603, đã qua sử dụng, gắn sim số 0977.117.970; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A38, màu đen, số IMEI: 863017065715799/863017065715781, đã qua sử dụng, gắn sim số 0338.658.520 sử dụng liên lạc khi mua bán và vận chuyển bò nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Ông H1 và bị cáo S đều xác định xe ô tô biển số 66C-109.71 bắt đầu cho bị cáo S mượn từ năm 2021, sau đó xe vẫn để ở nhà bị cáo S, khi nào cần thì hỏi mượn ông H1, sáng ngày 21/7/2024 bị cáo S đã hỏi mượn và được ông Hòa đồng Ý nên đây là giao dịch dân sự, vì vậy ông H1 và bị cáo S xin nhận lại xe ô tô là không có căn cứ chấp nhận, ông H1 và bị cáo S có quyền tự thỏa thuận với nhau để giải quyết vụ việc, trường hợp phát sinh tranh chấp thì khởi kiện bằng 01 vụ án dân sự.

Đối với 14 con bò sau khi bị tạm giữ ngày 21/7/2024 (02 con chết vào ngày hôm sau) do không đủ điều kiện chăm sóc nên đều đã chết, cơ quan công an đã lập biên bản tiêu hủy theo quy định nên không xem xét.

[6] Ông H1 không biết về việc bị cáo S sử dụng xe ô tô biển số 66C-109.71 vận chuyển bò từ Campuchia nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với với ông H1 là có căn cứ.

[7] Bị cáo T khai ông Văn Ngọc A là người đã giúp bị cáo T đưa bò từ Campuchia về Việt Nam qua đường chuồng trâu của Ngọc A với chi phí mỗi con bò là 300.000 đồng, còn bị cáo S khai ông Ngọc A là người hướng dẫn đường cho bị cáo S điều khiển xe sang Campuchia chở bò, nhưng ông Ngọc A không thừa nhận và không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh về các nội dung nêu trên. Do đó, không có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự Ngọc A đồng phạm về tội buôn lậu.

[8] Đối với người đàn ông tên H2 và H3 là người Campuchia, không có họ tên địa chỉ cụ thể nên không xác minh làm rõ, vì vậy không đủ căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự.

[9] Về án phí: Các bị cáo T, S không thuộc trường hợp được miễn giảm án phí nên các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 188, a khoản 1 Điều 47, Điều 17, Điều 35, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào a khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Phạm Thanh S phạm tội “Buôn lậu”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng).

Xử phạt bị cáo Phạm Thanh S số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).

Về vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, số loại FRONTIER, màu sơn trắng, biển số 66C-109.71, số máy J001555D4CB, số khung 5KHBKC094162 (loại xe: tải có mui, tải trọng hàng hóa: 2.490kg); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số IMEI: 358589290745595/358589290745603, đã qua sử dụng, gắn sim số 0977.117.970; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A38, màu đen, số IMEI: 863017065715799/863017065715781, đã qua sử dụng, gắn sim số 0338.658.520.

Các vật chứng nêu trên hiện đang do Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vĩnh Hưng đang quản lý.

Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Thanh S mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Thanh S; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Thái H1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Văn Ngọc A có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

- TAND, VKSND tỉnh Long An;

- VKSND, CCTHADS, Công an/H;

- Bị cáo;

- Người có QL,NVLQ;

- Lưu: HS, án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Xuân Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN về hình sự sơ thẩm (tội buôn lậu)

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Buôn lậu)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T muốn có lợi nhuận từ việc mua bò bên Campuchia về bán nên đã sang campuchia mua 14 con bò và thuê S vận chuyển số bò trên. Khi đang vận chuyển bò từ Campuchia về nhà thì bị lực lượng công an bắt giữ. Tổng giá trị bò được định giá là 113.120.000 đồng. Bị cáo T bị phạt tiền 70 triệu, S phạt 50 triệu, tịch thu 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, số loại FRONTIER và điện thoại di động
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger