Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN HỒNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày: 20-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vũ Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Hồng Kiệt.

Ông Bùi Văn Sinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Ngô Văn Phước H, sinh ngày 01-01-1981 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn M, sinh năm 1952 và con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1953; Anh chị em ruột: 04 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; tiền án: Chưa có; tiền sự: Chưa có; Tạm giam: Không; Tạm giữ: Ngày 13-10-2024; Hủy bỏ biện pháp tạm giữ: Ngày 16-10-2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/. Lê Đình L1, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Cư trú: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2/. Dương Văn T1, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Cư trú: Ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng: Võ Hoài H1, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Các người chứng kiến:

1/. Đào Thị D, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

2/. Nguyễn Văn K, sinh năm 1963 (vắng mặt).

Cư trú: Khóm B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ, ngày 13-10-2024 bị cáo Ngô Văn Phước H từ nhà tại ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp đi xe buýt đến huyện T tìm tài sản trộm cắp. Khi đến khu di tích Gò Quản C thuộc ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp thì bị cáo H vào quán nước uống cà phê. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, bị cáo H đi bộ ra đường nội đồng về hướng Ủy ban nhân dân xã A phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 60K6-9838; Nhãn hiệu: QUICKNEWWAVE; Màu sơn: Nâu; loại xe Dream của anh Nguyễn Thanh T đang đậu trên đường có chìa khóa gắn trên xe không ai trong coi, sau đó bị cáo H đến nổ máy và điều khiển xe chạy đi nên anh T phát hiện tri hô “Ăn trộm” truy đuổi và điện thoại báo Công an xã A, huyện T. Bị cáo H điều khiển xe chạy được khoảng 600m thì anh Dương Văn T1 dùng xe mô tô chặn ngang đường, do đó bị cáo H để xe mô tô lại và nhảy xuống kênh bơi qua bờ kênh phía ấp A, xã A, huyện T thì bị anh Võ Hoài H1 cùng lực lượng Công an xã A, huyện T bắt giữ.

Vật chứng của vụ án thu giữ: 01 xe mô tô biển kiểm soát 60K6-9838; Nhãn hiệu: QUICKNEWWAVE; Màu sơn: Nâu; Số khung: GXCHL01847408; Số máy: CE10001847408; Dung tích xi lanh 97cm³ đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho anh Nguyễn Thanh T.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 33/KL-HĐĐG, ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 xe mô tô biển kiểm soát 60K6-9838; Nhãn hiệu: QUICKNEWWAVE; Màu sơn: Nâu; Số khung: GXCHL01847408; Số máy: CE10001847408; Dung tích xi lanh 97cm³ đã qua sử dụng, giá trị tài sản là 2.400.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 06/CT-VKSTH ngày 23-01-2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Ngô Văn Phước H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Ngô Văn Phước H thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo như nội dung Cáo trạng truy tố, bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là có lỗi và vi phạm pháp luật.

Tại phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Ngô Văn Phước H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có cha ruột tên Ngô Văn M là thương binh hạng 4/4; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, lao động chính trong gia đình, nuôi cha mẹ hết tuổi lao động, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Văn Phước H mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 60K6-9838; Nhãn hiệu: QUICKNEWWAVE; Màu sơn: Nâu; Số khung: GXCHL01847408; Số máy: CE10001847408; Dung tích xi lanh 97cm³ đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho bị hại Nguyễn Thanh T là phù hợp theo quy định pháp luật.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Văn T1 trong lúc chặn xe để cản đường bị cáo nên va chạm làm xe anh T1 bị trầy xước nhẹ, nhưng anh T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường và cũng không yêu cầu gì, nên không xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong không yêu cầu gì và các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không yêu cầu gì, nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xử lý xong, nên không xem xét xử lý.

Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo Ngô Văn Phước H xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo để lo cho cha mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, Kiểm sát viên trong quá trình tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa lời khai nhận tội của bị cáo Ngô Văn P H phù hợp với nội dung Cáo trạng truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại; các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; kết luận định giá tài sản; vật chứng thu giữ được và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, qua tranh tụng đã đủ cơ sở kết luận vào ngày 13-10-2024 bị cáo Ngô Văn Phước H có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bị hại Nguyễn Thanh T một xe mô tô biển kiểm soát 60K6-9838 có giá trị 2.400.000 đồng.

[3] Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người trên 18 tuổi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực hành vi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo Ngô Văn Phước H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[4] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã trộm cắp tài sản của bị hại, hành vi của bị cáo đã gây lo lắng trong cộng đồng dân cư và gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có như vậy mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo, về nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có cha ruột tên Ngô Văn M là thương binh hạng 4/4; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, lao động chính trong gia đình, nuôi cha mẹ hết tuổi lao động, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong không yêu cầu gì và các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không yêu cầu gì, nên không xem xét giải quyết.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Văn T1 trong lúc chặn xe để cản đường bị cáo nên va chạm làm xe anh T1 bị trầy xước nhẹ, nhưng anh T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường và cũng không yêu cầu gì, nên không xem xét giải quyết, là phù hợp quy định pháp luật.

[8] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xử lý xong, nên không xem xét xử lý.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 60K6-9838: Nhãn hiệu: QUICKNEWWAVE; Màu sơn: Nâu; số khung: GXCHL01847408; Số máy: CE10001847408; Dung tích xi lanh 97cm³ đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho bị hại Nguyễn Thanh T là phù hợp quy định pháp luật.

[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ngô Văn Phước H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Xét thấy phát biểu luận tội và đề nghị xử lý vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Phước H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn Phước H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù, nhưng được trừ đi những ngày bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13-10-2024 đến ngày 16-10-2024.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ngô Văn Phước H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20-02-2025). Bị hại; các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ĐT.
  • - VKSND tỉnh ĐT.
  • - Sở Tư pháp tỉnh ĐT.
  • - VKSND huyện Tân Hồng, tỉnh ĐT.
  • - Cơ quan CSĐT CA Tân Hồng, ĐT.
  • - Cơ quan THAHS CA Tân Hồng, ĐT.
  • - CC THADS huyện Tân Hồng, tỉnh ĐT.
  • - Bị cáo; Bị hại; Người liên quan.
  • - UBND xã Láng Biển, huyện Tháp Mười.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Vũ Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Phước H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Ngô Văn Phước H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù, nhưng được trừ đi những ngày bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13-10-2024 đến ngày 16-10-2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger