Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày 19-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Trung Thông.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Tâm và bà Hồ Hồng Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 03 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST – HS, ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST – HS ngày 18/02/2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 03/TB-TA, ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Văn Khanh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10 tháng 9 năm 1974, tại huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Trần Trọng Bi và bà Phạm Thị X (Bố mẹ hiện đã mất); Vợ Trần Thị Th và 03 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 21/3/1996, bị Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự nơi công cộng” và 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Hủy hoại tài sản riêng của công dân” theo bản án số 10, đã được xóa án tích; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp tạm giam từ ngày 26/10/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt.

2. Họ và tên: Trần Văn H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 08 tháng 5 năm 1972, tại huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Đông B, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Con ông Trần Hồng C và bà Lê Thị Th (Bố mẹ hiện đã mất); Vợ Trần Thị H và 03 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 26/10/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt.

3. Họ và tên: Trần Quốc H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 23 tháng 6 năm 1990, tại huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Đông B, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Văn Th (Đã chết) và bà Trần Thị Nh; Vợ Dương Thị Vân A và 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 26/10/2024 đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Trần Văn Th, sinh năm 1970; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn Đông B, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt.
  2. Trần Viết Th, sinh năm 1983; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.
  3. Trần Thị Th, sinh năm 1976; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt.
  4. Trần Thị H, sinh năm 1974; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn Đông B, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt.
  5. Dương Thị Vân A, sinh năm 1989; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn Đông B, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt.
  6. Trần Thị Nh, sinh năm 1963; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn Đông B, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt.
  7. Trần Thị Thanh Ng, sinh năm 1983; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.
  8. Trần Thị Hoa Ph, sinh năm 1992; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn Đông B, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt.
  9. Phan Ngọc H, sinh năm 1978; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn 7, xã Sơn Lĩnh, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.
  10. Dương Thị H, sinh năm 1959; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 21/10/2024, Trần Văn Kh gọi điện thoại cho Trần Văn H để rủ H sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng do bận việc nên H không nghe máy. Ngay sau đó, H gọi điện lại cho Kha thì Kh hỏi: Trời mưa, có chương trình chi thì ta giao lưu tý (ý nói là trời mưa nên rủ H sử dụng ma túy). H trả lời: Để xem đã. Kh nói tiếp: Nếu có thì cho mượn năm trăm chung vui với (ý nói là nếu có sử dụng ma túy thì cho Kh mượn trước 500.000 đồng góp mua ma túy về sử dụng cùng) thì H đồng ý. Sau đó, Hùng gọi điện cho Trần Quốc H để nhờ mua ma túy thì H đồng ý rồi liên lạc với Lê Văn H1, trú tại xã Đan Trường, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh để hỏi mua 500.000 đồng ma túy. H1 nói H đến nhà H1 để mua ma túy thì H một mình điều khiển xe máy 38N1 - 276.60 đi đến trước cổng nhà H1. Khi đến nơi, H gọi H1 nhưng không thấy H1 ra mà thấy một nam thanh niên không quen biết đi đến nói H đưa tiền thì H đưa 500.000 đồng và rồi người này chỉ cho Huy vị trí cách cổng nhà H1 khoảng 5 mét về hướng bên trái lấy 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 túi ni lông màu trắng đựng có 04 viên ma túy hồng phiến. Sau đó, H điều khiển xe máy đi về rồi gọi điện thoại báo cho H biết đã mua được ma túy. H bảo H đi đến nhà bà Trần Thị H, ở thôn Đông B, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân (là ngôi nhà bỏ hoang, không có người ở) để sử dụng ma túy thì H đồng ý rồi điều khiển xe máy đi đến nhà bà H. H điều khiển xe máy 38N1-005.77 đi phía sau rồi gọi điện báo cho Kh biết đã mua được ma túy và nói Kh đến nhà bà H để sử dụng ma túy. Nghe H báo thì Kh cũng điều khiển xe máy 38N1-108.17 đi đến nhà bà H. Khi đến nơi, H nhặt được 01 vỏ chai nhựa ở bụi cây gần nhà bà H, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ và 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng tại thềm nhà bà H rồi đi vào trong nhà. Huy làm các dụng cụ tự chế để sử dụng ma túy bằng cách lấy tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng cuốn lại thành dạng ống hút, đút vào lỗ nhỏ có sẵn trên thân chai nhựa, lấy mảnh giấy thiếc trong bao thuốc Thăng Long xé thành các mảnh nhỏ và lấy trong túi ni lông đựng 04 viên ma túy cùng bật lửa ra để trên nền nhà. Vài phút sau, lần lượt H và Kh đến. Tại đây, Kh liên lạc với Trần Viết Th, còn H liên lạc với Trần Văn Th rủ đến nhà bà H sử dụng ma túy thì Th và Th đều đồng ý. Lúc này, H lấy 02 viên ma túy bỏ vào 01 mảnh giấy thiếc và dùng bật lửa đốt phía dưới mảnh giấy thiếc có chứa 02 viên ma túy cho Kh sử dụng. Kh sử dụng xong, thì H đốt cho H sử dụng. H sử dụng xong, thì H tự đốt ma túy để sử dụng. Sau đó, Th đến thì H tiếp tục đốt cho Th sử dụng. Sau đó, Th đến thì lúc này 02 viên trước đã hết nên H lấy tiếp 02 viên còn lại bỏ lên mảnh giấy thiếc rồi đốt cho Th sử dụng. Sau khi Th sử dụng xong thì H tiếp tục đốt cho Th, Kh và H sử dụng mỗi người một lượt, rồi H tự đốt để sử dụng thêm một lượt nữa thì hết ma túy. Lúc này, H lấy ra 500.000 đồng trả tiền mua ma túy cho H thì H cầm tiền rồi đi về trước. Cả bốn người còn lại gồm Kh, H, Th và Th tiếp tục ngồi lại để nói chuyện đến khoảng 11 giờ 30 cùng ngày thì lực lượng Công an huyện Nghi Xuân vào kiểm tra phát hiện và thu giữ các vật chứng có liên quan.

Kết quả xét nghiệm ma túy của Trung tâm y tế huyện Nghi Xuân ngày 21/10/2024 trong cơ thể Trần Quốc H; Trần Văn H; Trần Văn Kh; Trần Văn Th và Trần Viết Th đều dương tính với chất ma túy, loại ma túy: MET (Methamphetamine).

Tại Kết luận giám định số 1234/KL-KTHS ngày 24/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận:

- Trên trong 01 chai nhựa trong suốt cao 21cm, trên thân chai có một lỗ và gắn 01 ống hình trụ tròn được cuốn từ tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ có chiều dài 7,6cm; 01 bao thuốc lá màu vàng bên ngoài có chữ Thăng Long (ký hiệu M1) gửi giám định không có chất ma túy.

- Trên 03 mảnh giấy thiếc, mỗi mảnh đều được xoắn một đầu, có kích thước phần dài nhất và phần rộng nhất lần lượt: dài 5,4cm, rộng: 1,5cm; dài 06cm, rộng 02cm; Dài 06cm, rộng 1,5cm, (ký hiệu M2) gửi giám định không có chất ma túy.

- Trên 01 mảnh giấy thiếc có chiều rộng 8,2cm, chiều dài nhất 15,7cm, một mặt có màu trắng, một mặt có màu vàng (ký hiệu M3) gửi giám định không có chất ma túy.

- Trong 01 túi ni lông trong suốt có kích thước 2,6cm x 3cm (ký hiệu M4) gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Ngày 02/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghi Xuân đã có công văn số 234/CÁOX-HSKTMT gửi Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh đề nghị xác định khối lượng chất ma túy Methamphetamine tìm thấy trong túi ni lông nói trên. Tại công văn số 432/PC09 ngày 05/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh trả lời: không xác định được khối lượng chất ma túy, loại Methamphetamine do lượng ma túy nhỏ, ở dạng vì vết bám dính trên túi ni lông.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật và xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghi Xuân đã thu giữ như sau: Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành: 500.000 đồng (thu giữ tại bà Trần Thị Nh). 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế, gồm: 01 chai nhựa trong suốt cao 21cm, trên thân chai có một lỗ và gắn 01 ống hình trụ tròn được cuốn từ tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ có chiều dài 7,6cm; 01 mảnh giấy thiếc có chiều rộng 8,2cm, chiều dài nhất 15,7cm, một mặt có màu trắng, một mặt có màu vàng; 01 bao thuốc lá màu vàng bên ngoài có chữ Thăng Long; 03 mảnh giấy thiếc, mỗi mảnh đều được xoắn một đầu, có kích thước phần dài nhất và phần rộng nhất lần lượt: Dài 5,4cm, rộng: 1,5cm; Dài 06cm, rộng 02cm; Dài 06cm, rộng 1,5cm; 01 túi ni lông trong suốt có kích thước 2,6cm x 03cm. 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, số IMEI 1: 861063050479332, số IMEI 2: 861063050479324, gắn sim số thuê bao: 0978755970, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn Thọ. 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu ghi, số IMEI 1: 865055064645813, số IMEI 2: 865055064645805, gắn sim số thuê bao 0973825826, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Viết Thắng. 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, bị vỡ mặt sau, số IMEI: 353240580672918, gắn sim số thuê bao 0352918033, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn Kh. 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, số IMEI 353339071394402, gắn sim số thuê bao 0379216756, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn H. 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 38N1-005.77, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn H. 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu trắng vàng, biển kiểm soát 38N1-108.17, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn Kh. 01 điện thoại Iphone 6 Plus, màu vàng, số Imei 356997069666417, gắn sim số thuê bao 0979.404.100, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Quốc H. 01 xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave, sơn mà xanh đen bạc, mang biển kiểm soát 38N1 - 276.60, xe có số máy: JA39E2468628, số khung: RLHJA3928MY443768, đã qua sử dụng, thu giữ từ chị Dương Thị Vân A. Sô vật chứng thu giữ nói trên, hiện chưa được xử lý.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Noza, màu xanh, biển kiểm soát 38N1-064.50, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Viết Thắng. Sau khi điều tra làm rõ, chiếc xe máy trên thuộc quyền sở hữu của chị Trần Thị Thanh Ng, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Dream II, biển kiểm soát 38S1-1604, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn Th. Sau khi điều tra làm rõ, chiếc xe máy trên thuộc quyền sở hữu của chị Trần Thị Hoa Ph, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Với hành vi trên, Cáo trạng số 07/CT – VKS-NX ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố các bị cáo Trần Văn Kh, Trần Văn H, Trần Quốc H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu ở trên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Văn Kh, Trần Văn H, Trần Quốc H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17, Điều 58, điểm đ khoản 1 Điều 32, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đối với Trần Văn H, Trần Quốc H áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Văn Kh, Trần Văn H, Trần Quốc H mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 26/10/2024. Ngoài ra còn đề xuất xử lý vật chứng và án phí.

Các bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo mức án thấp nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, như vậy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/10/2024, tại nhà bà Trần Thị H thuộc thôn Đông B, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, Trần Văn Kh, Trần Văn H và Trần Quốc H đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; trong đó: Trần Văn Kh là người khởi xướng, rủ rê Trần Văn H và Trần Viết Th sử dụng trái phép chất ma túy; Trần Văn H là người trả tiền và nhờ Trần Quốc H đi mua ma túy, rủ Trần Quốc H, Trần Văn Th sử dụng trái phép chất ma túy; Trần Quốc H là người đi mua ma túy, trực tiếp chuẩn bị các dụng cụ phục vụ việc sử dụng trái phép chất ma túy và hơ đốt ma túy cho bản thân cùng Trần Văn Kh, Trần Văn H, Trần Văn Th và Trần Viết Th sử dụng ma túy.

[3] Hành vi của các bị cáo Trần Văn Kh, Trần Văn H, Trần Quốc H bố trí sắp xếp địa điểm, cung cấp ma túy, dụng cụ để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo thực hiện hành vi khi đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, không thuộc tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 255 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo tổ chức để 05 người sử dụng trái phép chất ma túy đã phạm vào Điểm b Khoản 2 Điều 255 “Đối với 02 người trở lên”

Do đó việc truy tố, xét xử các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, đồng thời làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, là mầm mống phát sinh những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo; do đó, cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Trần Quốc H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ có mẹ là bà Trần Thị Nh và ông nội là Trần Văn N được Nhà nước và nhiều ban ngành các cấp tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen, huy chương; Bị cáo Trần Văn H có bố là ông Trần Hồng C được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến và Huân chương chiến sĩ vẻ vang, có mẹ là bà Lê Thị Th được cấp Giấy chứng nhận Người được hưởng chính sách như thương binh quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhằm giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Trong vụ án này các bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án vì vậy mức hình phạt của các bị cáo là tương đồng.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 và khoản 2 Điều 35 của Bộ luật hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét thấy bị cáo là con nghiện sống phụ thuộc vào gia đình không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Đối với Trần Viết Th và Trần Văn Th là những người tham gia sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Trần Văn Kh, Trần Văn H và Trần Quốc H. Tuy nhiên Th và Thă không bố trí, sắp xếp, chuẩn dụng cụ, đồ vật... để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, Công an huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, mỗi người số tiền 1.500.000 đồng là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.

Đối với Lê Văn H và người đàn ông đã giao ma túy cho Trần Quốc H, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nhiều lần xác minh, triệu tập Lê Văn H nhưng H không có mặt tại địa phương và người đàn ông giao ma túy, nhận số tiền 500.000 đồng từ Trần Quốc H, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên chưa có cơ sở xử lý đối với Lê Văn H và người đàn ông trên. Yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với bà Trần Thị H, quá trình điều tra xác định thời điểm các đối tượng tụ tập để sử dụng trái phép chất ma túy bà H không có mặt tại nhà và không biết gì về việc này nên không xem xét xử lý đối với bà H.

Đối với chị Dương Thị Vân A (vợ Trần Quốc H), chị Trần Thị H (vợ Trần Văn H), chị Trần Thị Th (vợ Trần Văn Kh). Quá trình điều tra xác định Huy, H và Kh sử dụng các xe máy làm phương tiện đi đến nơi sử dụng trái phép ma túy nhưng chị Vân A, chị H và chị Th không biết nên không xem xét xử lý đối với chị Vân A, chị H và chị Th.

Đối với bà Trần Thị Nh (mẹ H), Trần Quốc H khai nhận lấy trong túi áo của bà Nh số tiền 500.000 đồng để đi mua ma túy. Sau khi được Trần Văn H trả tiền thì H đã để lại số tiền này vào túi áo của bà Nh. Quá trình điều tra xác định bà Nh không biết việc H lấy tiền để đi mua ma túy nên không xem xét xử lý đối với bà Nh.

[9] Về xử lý vật chứng:

01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế, gồm: 01 chai nhựa trong suốt cao 21cm, trên thân chai có một lỗ và gắn 01 ống hình trụ tròn được cuốn từ tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ có chiều dài 7,6cm; 01 mảnh giấy thiếc có chiều rộng 8,2cm, chiều dài nhất 15,7cm, một mặt có màu trắng, một mặt có màu vàng; 01 bao thuốc lá màu vàng bên ngoài có chữ Thăng Long; 03 mảnh giấy thiếc, mỗi mảnh đều được xoắn một đầu, có kích thước phần dài nhất và phần rộng nhất lần lượt: Dài 5,4cm, rộng: 1,5cm; Dài 06cm, rộng 02cm; Dài 06cm, rộng 1,5cm; 01 túi ni lông trong suốt có kích thước 2,6cm x 03cm. Đây là vật không có giá trị sử dụng; nên cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, số IMEI 1: 861063050479332, số IMEI 2: 861063050479324, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn Th; 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu ghi, số IMEI 1: 865055064645813, số IMEI 2: 865055064645805, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Viết Th; 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, bị vỡ mặt sau, số IMEI: 353240580672918, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn Kh; 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, số IMEI 353339071394402, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn H; 01 điện thoại Iphone 6 Plus, màu vàng, số Imei 356997069666417, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Quốc H. Đây là phương tiện liên lạc trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 sim số thuê bao 0978755970, 01 sim số thuê bao 0973825826, 01 sim số thuê bao 0352918033, 01 sim số thuê bao 0379216756, 01 sim số thuê bao 0979.404.100. Đây là vật không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 38N1-005.77, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn H; 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu trắng vàng, biển kiểm soát 38N1-108.17, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn Kh; 01 xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave, sơn màu xanh đen bạc, mang biển kiểm soát 38N1 - 276.60, đã qua sử dụng, thu giữ từ chị Dương Thị Vân A là vật không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các bị cáo và người liên quan.

Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 500.000 đồng đây là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, điểm đ khoản 1 Điều 32, khoản 1 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Ngoài ra các bị cáo Trần Văn H, Trần Quốc H được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  2. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Khanh, Trần Văn H, Trần Quốc H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  3. Về hình phạt chính:
    1. Xử phạt Trần Văn Kh 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 26/10/2024.
    2. Xử phạt Trần Văn H 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 26/10/2024.
    3. Xử phạt Trần Quốc H 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 26/10/2024.
  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy:

    01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế, gồm: 01 chai nhựa trong suốt cao 21cm, trên thân chai có một lỗ và gắn 01 ống hình trụ tròn được cuốn từ tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ có chiều dài 7,6cm; 01 mảnh giấy thiếc có chiều rộng 8,2cm, chiều dài nhất 15,7cm, một mặt có màu trắng, một mặt có màu vàng; 01 bao thuốc lá màu vàng bên ngoài có chữ Thăng Long; 03 mảnh giấy thiếc, mỗi mảnh đều được xoắn một đầu, có kích thước phần dài nhất và phần rộng nhất lần lượt: Dài 5,4cm, rộng: 1,5cm; Dài 06cm, rộng 02cm; Dài 06cm, rộng 1,5cm; 01 túi ni lông trong suốt có kích thước 2,6cm x 03cm. 01 sim số thuê bao 0978755970, 01 sim số thuê bao 0973825826, 01 sim số thuê bao 0352918033, 01 sim số thuê bao 0379216756, 01 sim số thuê bao 0979.404.100.

    Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 500.000 đồng.

    Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước: 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, số IMEI 1: 861063050479332, số IMEI 2: 861063050479324, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn Th; 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu ghi, số IMEI 1: 865055064645813, số IMEI 2: 865055064645805, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Viết Th; 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, bị vỡ mặt sau, số IMEI: 353240580672918, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn Kh; 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, số IMEI 353339071394402, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn H; 01 điện thoại Iphone 6 Plus, màu vàng, số Imei 356997069666417, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Quốc H.

    Trả lại cho bị cáo Trần Quốc H và chị Dương Thị Vân A: 01 xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave, sơn mà xanh đen bạc, mang biển kiểm soát 38N1 - 276.60, đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 38003212 ngày 15/12/2021 (Lưu tại hồ sơ vụ án).

    Trả lại cho bị cáo Trần Văn H và chị Trần Thị Hòa: 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 38N1-005.77, đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 008542 ngày 22/02/2017 (Lưu tại hồ sơ vụ án).

    Trả lại cho bị cáo Trần Văn Kh và chị Trần Thị Th: 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu trắng vàng, biển kiểm soát 38N1-108.17, đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 012343 ngày 29/3/2018 (Lưu tại hồ sơ vụ án).

    Tình trạng các vật chứng trên có tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/01/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Xuân với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân.

  5. Về án phí: Các bị cáo Trần Văn Kh, Trần Văn H, Trần Quốc H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Nghi Xuân;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Hồ sơ Công an;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - Chi cục THADS huyện Nghi Xuân;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS; VP-TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký đóng dấu)

Hoàng Trung Thông

HỘI THẨM NHÂN DÂN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Kh và đồng bọn phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger