|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2025/HS-ST
Ngày: 07-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Kim Hoa;
Ông Phạm Việt Cường.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Sùng Thị C, sinh ngày 15/11/1995 tại huyện T, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) không biết chữ; dân tộc Mông; giới tính nữ; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Sùng A C1, sinh năm 1972 và bà Mùa Thị C2, sinh năm 1972; chồng Vàng A L và 04 con; tiền án, tiền sự không; bị tạm giữ từ ngày 16 tháng 10 năm 2024, tạm giam từ ngày 19 tháng 10 năm 2024; "Có mặt".
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị H - Trợ giúp viên pháp lý của Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 1, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Y; "Có mặt".
- Người tham gia tố tụng khác
Người có quyền lợi liên quan: Anh Vàng A L, sinh năm 1990; nơi cư trú thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Yên Bái; “Có mặt"..
Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Giàng A H1 - Cán bộ Ban chỉ huy quân sự thị xã N, tỉnh Yên Bái; “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối 13/10/2024 Sùng Thị C đi bộ đến khu vực bờ suối giáp ranh giữa xã P và xã T, huyện T, gặp và mua của một người đàn ông dân tộc Mông, không quen biết 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 3.600.000 đồng, sau đó C mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 16/10/2024, khi Sùng Thị C đang ở nhà thì có một người đàn ông gọi điện cho C hỏi mua ma túy loại Heroine, với giá 4.000.000 đồng. Sẵn có ma túy, nên Sùng Thị C đồng ý và hẹn người đàn ông trên đến khu vực ngã ba gần Nhà máy gạch thuộc thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Sau đó, Sùng Thị C đi xe mô tô đến nơi hẹn; tại đây, C cất giấu 01 gói nilon màu trắng bên trong có 02 túi nilon màu hồng được hàn túm một đầu bên trong chứa Heroine, tại chân cột điện ven đường, C ra cách vị trí giấu ma túy khoảng 6 m đến 7 m và ngồi đợi người mua Heroine đến để bán. Khi người mua ma túy chưa đến thì Sùng Thị C bị Tổ công tác Công an thị xã N phát hiện bắt giữ; thu giữ ma túy và một số tài sản khác.
* Bản kết luận giám định số: 656/KL-KTHS ngày 25/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y, kết luận:
“Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Sùng Thị C có tổng khối lượng là: 7,08 gam (bảy phảy không tám gam); 0,1 gam trích từ 7,08 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine".
Bản Cáo trạng số: 01/CT-VKS-NL ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố bị cáo Sùng Thị C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi mua bán ma túy mà bị cáo đã thực hiện; người có quyền lợi liên quan đề nghị được nhận lại tiền và xe mô tô, bị cáo C nhất trí để chồng là Vàng A L trực tiếp nhận lại các tài sản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ thực hành quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sùng Thị C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Sùng Thị C từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.
-
- Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
-
+ Tịch thu tiêu hủy: 6,98 gam (sáu phảy chín mươi tám gam) Heroine còn lại sau khi lấy mẫu giám định, đã niêm phong; 03 (ba) vỏ phong bì đã mở niêm phong và các mảnh nilon gói;
-
+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động màu đen, loại máy bàn phím bấm, mặt trước có chữ JSTAR, có gắn sim số thuê bao 0817052541;
-
+ Trả lại Vàng A L: 51.420.000 đồng (năm mươi mốt triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng) và 01 xe mô tô, biển kiểm soát 21KA-218.11, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu trắng.
-
-
- Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sùng Thị C.
-
- Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
-
- Người bào chữa trình bày lời bào chữa: Nhất trí với nội dung bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; lượng ma tuý chưa phát tán ra xã hội; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có 04 con nhỏ.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Sùng Thị C 07 (bảy) năm tù.
-
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
-
- Vật chứng, tài sản bị tạm giữ: Nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên.
-
- Án phí: Đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận bổ sung gì, nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
-
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
[2] Lời khai tại phiên toà của bị cáo phù hợp biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:
Với động cơ, mục đích vụ lợi, nên Sùng Thị C đã mua 7,08 gam ma túy, loại Heroine về cất giấu để bán lại kiếm lời; vào hồi 12 giờ 45 phút ngày 16/10/2024, tại khu vực ngã ba gần nhà máy G thuộc thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái; khi C đang chờ người đến mua ma túy thì bị Công an thị xã N bắt quả tang.
-
[3] Khối lượng ma túy mà bị cáo mua nhằm mục đích để bán là trên 5 gam, nên Sùng Thị C phải chịu tình tiết tăng nặng định khung theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
-
[4] Từ những căn cứ trên đã có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Sùng Thị C thực hiện đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
-
[5] Nhân thân: Bị cáo Sùng Thị C trước khi thực hiện hành vi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự, nên xác định bị cáo là người có nhân thân tốt.
-
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
-
[7] Bị cáo phạm tội lần đầu; khối lượng ma túy mà bị cáo mua nhằm mục đích để bán lớn hơn mức tối thiểu của khung hình phạt không nhiều; ma túy cũng chưa phát tán ra ngoài xã hội; bị cáo có 4 con nhỏ, nên Hội đồng xét xử áp dụng mức khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo cũng đủ để cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
-
[8] Hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội chưa thu được lợi nhuận; gia đình bị cáo C thuộc diện hộ nghèo của xã, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
-
[9] Vật chứng:
-
- Đối với: 6,98 gam (sáu phảy chín mươi tám gam) Heroine còn lại sau khi lấy mẫu giám định. Đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, nên tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
-
- Số tiền 51.420.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang Sùng Thị C và khám xét nơi ở là tiền của vợ chồng Công lao Đ, bố chồng bị cáo cho và tiền do Nhà nước hỗ trợ để gia đình C xóa nhà dột nát, không liên quan đến tội phạm, nên căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại gia đình bị cáo, cụ thể trả lại cho chồng bị cáo là người trực tiếp nhận.
-
- 01 điện thoại di động màu đen, loại máy bàn phím bấm, mặt trước có chữ JSTAR, có gắn sim số thuê bao 0817052541, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Sùng Thị C. Đây là phương tiện C sử dụng liên lạc để bán ma túy, nên cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
-
- Chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 21KA-218.11, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu trắng, là tài sản chung của gia đình bị cáo C, bị cáo sử dụng để đi mua bán ma túy, chồng bị cáo không biết, không có lỗi, nên Hội đồng xét xử căn cứ tại điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại xe mô tô cho gia đình bị cáo, cụ thể trả cho anh Vàng A L là chồng của bị cáo.
-
- 03 (một) vỏ phong bì đã mở niêm phong và các mảnh nilon gói. Vỏ phong bì Cơ quan Công an đã dùng để niêm phong vật chứng, không có giá trị sử dụng, nên tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; mảnh nilon bị cáo sử dụng để làm công cụ phạm tội, nên tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
-
-
[10] Án phí và các vấn đề khác:
Bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo, sống ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn; bị cáo đề nghị được miễn án phí. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông mà bị cáo Công khai đã sử dụng số thuê bao 0886.307.182 để liên lạc hỏi mua Heroine. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đã tiến hành điều tra, xác minh; ngoài lời khai của Sùng Thị C về số điện thoại gọi đến thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh về người gọi điện hỏi mua Heroine của Sùng Thị C. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ trong vụ án.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma tuý cho Sùng Thị C tại khu vực bờ suối giáp ranh giữa xã P và xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái. Do bị can không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ xác minh, làm rõ.
Bị cáo Sùng Thị C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức rõ việc mua bán trái phép Heroine (ma túy) là vi phạm pháp luật hình sự và biết được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và đời sống xã hội, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, nhằm mục đích thu lời bất chính.
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà bị cáo C thực hiện đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách phòng, chống và kiểm soát ma túy của Nhà nước; tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng, lan tràn tình trạng nghiện chất ma túy; ảnh hưởng đến sức khỏe con người; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và xâm hại trật tự an toàn xã hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng Thị C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
-
Điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Sùng Thị C 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo, là ngày 16/10/2024.
-
Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
-
- Tịch thu tiêu hủy: 6,98 gam (sáu phảy chín mươi tám gam) Heroine còn lại sau khi lấy mẫu giám định, đã niêm phong; 03 (ba) vỏ phong bì đã mở niêm phong và các mảnh nilon gói;
-
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động màu đen, loại máy bàn phím bấm, mặt trước có chữ JSTAR, có gắn sim số thuê bao 0817052541;
-
- Trả lại Vàng A L: 51.420.000 đồng (năm mươi mốt triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng) và 01 xe mô tô, biển kiểm soát 21KA-218.11, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu trắng.
(đặc điểm của vật chứng và tài sản như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N và Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ)
-
-
Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sùng Thị C.
-
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Sùng Thị C có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo phần Bản án có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Xuân |
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Với động cơ, mục đích vụ lợi, nên Sùng Thị C đã mua 7,08 gam ma túy, loại Heroine về cất giấu để bán lại kiếm lời; vào hồi 12 giờ 45 phút ngày 16/10/2024, tại khu vực ngã ba gần nhà máy gạch thuộc thôn N1, xã N, thị xã N, tỉnh Y; khi C đang chờ người đến mua ma túy thì bị Công an thị xã N bắt quả tang.
