TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ TỈNH HÀ GIANG Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày 27 - 02 - 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Văn Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Thư.
Ông Hoàng Đình Như.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Tươi - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 14/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với:
- Bị cáo: Nguyễn Thành C; sinh năm 1960; nơi sinh: Huyện T, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung K, sinh năm 1915 (đã chết) và con bà Đinh Thị V, sinh năm 1929 (đã chết); có vợ: Lê Thị Đ, sinh năm 1962; có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1990; có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; tiền sự, tiền án: Không.
Nhân thân: Năm 2007 Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang tuyên phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và năm 2015 Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang tuyên phạt 09 năm tù về tội Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy (đã xóa án tích); căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 25/4/2024, nơi cấp Cục CSQLHC về trật tự xã hội Bộ C2; tạm giữ: Ngày 13/10/2024; tạm giam: Ngày 22/10/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B (có mặt).
- Bị cáo: Nguyễn Kiều H; sinh năm 1984; nơi sinh: Huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1957 và con bà Đinh Thị T1, sinh năm 1960; có vợ: Trần Thị H1, sinh năm 1988; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2023; có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Năm 2018 Trưởng Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa); căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 23/11/2022, nơi cấp Cục CSQLHC về trật tự xã hội Bộ C2; tạm giữ: Ngày 12/10/2024; tạm giam: Ngày 21/10/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 12/10/2024 tại Km 53+800 Quốc lộ C Hà Giang - Cao Bằng, thuộc địa phận tổ C, thị trấn Y, huyện B, Tổ công tác Công an huyện B phối hợp với Công an thị trấn Y tuần tra, kiểm soát phát hiện Nguyễn Kiều H điều khiển xe mô tô BKS: 23K1-014.85 có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác yêu cầu dừng phương tiện kiểm tra phát hiện tại phần đầu xe mô tô có 01 bọc nilon màu trắng dán băng dính màu trắng xung quanh, bên trên có 01 tờ giấy ghi chữ “Gửi Quân huyện mới, số điện thoại 0973.642.xxx”, kiểm tra bên trong có 01 túi nilon màu xanh, bên trong có 01 mũ bảo hiểm màu trắng loại mũ lưỡi trai sọc kẻ đen - trắng, tiến hành mở bên trong có 01 gói nilon màu hồng, bên trong có 01 gói giấy màu vàng, bên trong có chất màu trắng dạng bột và cục N là ma túy (heroin). Nguyễn Kiều H khai nhận chất bột màu trắng là chất ma túy được Nguyễn Thành C ở thành phố H cho để sử dụng. Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Trong quá trình điều tra xác định Nguyễn Kiều H và Nguyễn Thành C đều là người nghiện ma túy quen biết nhau từ trước. Sáng ngày 12/10/2024 Nguyễn Kiều H gọi điện thoại cho Nguyễn Thành C hỏi tìm mua ma túy. C nói còn một gói ma túy (heroin) mua ngày 11/10/2024 để sử dụng không bán. H hỏi xin số chất ma túy này để sử dụng thì C đồng ý. Cả hai thống nhất C gửi chất ma túy qua đường xe khách từ thành phố H vào huyện B cho H. Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, Công bọc 01 gói ma túy bằng các lớp giấy, nilon rồi cho vào túi nilon đựng 01 mũ bảo hiểm bên ngoài ghi “Gửi Quân, sđt 0973.642.xxx”. Sau khi ngụy trang gói ma túy xong, C đi nhờ xe máy một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ đến nhà X (chuyên chạy tuyến Hà Giang - B) gửi gói ma tuý đã được ngụy trang như trên cho H, sau đó C nhắn tin báo cho H biết. Khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô BKS: 23K1-014.85 đi nhận số ma tuý trên, khi đang trên đường quay về nhà bị Tổ công tác bắt quả tang cùng tang vật.
Ngày 12/10/2024 cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại nhãn hiệu LG của Nguyễn Kiều H phát hiện các tin nhắn C thông báo đã gửi mũ bảo hiểm (chứa ma túy) cho H. Cùng ngày cơ quan CSĐT Công an huyện B khám xét khẩn cấp chỗ ở của H, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì thêm.
Tại biên bản làm việc ngày 13/10/2024, cơ quan điều tra tiến hành tiếp nhận 02 đoạn video từ camera giám sát tại nhà xe Dũng T2 có ghi lại hình ảnh 01 người đàn ông gửi 01 gói hàng màu trắng (dạng mũ bảo hiểm) cho nhà xe. C xác nhận bản thân chính là người đàn ông trong đoan Video trên.
Ngày 13/10/2024, Cơ quan điều tra ra các lệnh bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp Nguyễn Thành C để điều tra, cùng ngày cơ quan CSĐT khám xét khẩn cấp chỗ ở của C, kết quả phát hiện và thu giữ 01 mảnh giấy bạc kích thước 6,5cm x 3cm có nhiều vết đen bám dính; 01 ống cuộn được làm bằng giấy, ½ cuộn ống được cuốn bằng nilon màu hồng kích thước 9,5cm x 0,8cm, Công khai các đồ vật dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại phiếu xét nghiệm chất ma túy ngày 12, 13/10/2024, kết quả: Nguyễn Thành C, Nguyễn Kiều H đều dương tính với chất ma túy.
Tại Bản kết luận giám định ngày 17/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy, loại Heroin (heroine), khối lượng là 0,2035g (không phẩy hai nghìn không trăm ba mươi lăm gam). Heroin có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 phong bì màu trắng niêm phong kín “Mẫu hoàn lại sau giám định ký hiệu Al”.
- - 01 phong bì màu trắng được niêm phong kín “Vỏ bao gói sau giám định”.
- - 01 phong bì màu trắng, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau cân tịnh”.
- - 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu LG; 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 5S, màu trắng.
- - 01 túi nilon màu xanh.
- - 01 túi nilon màu trắng có dán băng dính.
- - 01 mũ bảo hiểm màu trắng.
- - 01 mảnh giấy bạc có kích thước 6,5cm x 3cm; 01 ống cuộn được làm bằng giấy (½ cuộn ống được làm bằng bằng nilon màu hồng có kích thước 9,5cm x 0,8cm).
- - 01 xe máy, nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, màu đen vàng, BKS: 23K1-01485, kèm theo chìa khóa xe máy.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại cáo trạng số 04/CT-VKSBM ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố bị cáo Nguyễn Thành C, Nguyễn Kiều H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành C, Nguyễn Kiều H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- - Hình phạt:
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Thành C từ 22 tháng đến 24 tháng tù.
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Kiều H từ 18 tháng đến 20 tháng tù.
- - Hình phạt bổ sung: Không.
- - Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì màu trắng niêm phong kín “Mẫu hoàn lại sau giám định ký hiệu Al”; 01 phong bì màu trắng được niêm phong kín, “Vỏ bao gói sau giám định”; 01 phong bì màu trắng, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau cân tịnh”; 01 túi nilon màu xanh; 01 túi nilon màu trắng có dán băng dính; 01 mũ bảo hiểm màu trắng; 01 mảnh giấy bạc có kích thước 6,5cm x 3cm; 01 ống cuộn được làm bằng giấy (½ cuộn ống được làm bằng bằng nilon màu hồng có kích thước 9,5cm x 0,8cm).
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe máy, nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, màu đen vàng, BKS: 23K1-01485, kèm theo chìa khóa xe máy; 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu LG; 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 5S, màu trắng.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc Nguyễn Thành C và Nguyễn Kiều H mỗi bị cáo chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Thành C, Nguyễn Kiều H nhất trí quan điểm Kiểm sát viên đề nghị, không có tranh luận đối đáp.
Bị cáo Nguyễn Thành C, Nguyễn Kiều H nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Kiều H và bị cáo Nguyễn Thành C là bạn bè đều là người nghiện ma tuý. Ngày 12/10/2024, do hết ma tuý để sử dụng nên H đặt vấn đề xin chất ma tuý của C về sử dụng, C đồng ý và cho H 01 gói ma túy (H) khối lượng 0,2035g, mục đích để sử dụng. Sau khi nhận chất ma tuý xong trên đường quay về đến K+800 Quốc lộ C Hà Giang - Cao Bằng, thuộc địa phận tổ C, thị trấn Y, huyện B thì bị phát hiện, bắt quả tang. Tại kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy, loại (Heroine), khối lượng là 0,2035g (không phẩy hai nghìn không trăm ba mươi lăm gam). Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Kiều H và bị cáo Nguyễn Thành C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
...c) H2, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Thuộc trường hợp nghiêm trọng nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Chất ma túy không chỉ đơn thuần là chất gây nghiện mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm mất trật tự trị an địa phương, phá vỡ hạnh phúc gia đình và làm thiệt hại đến kinh tế và sức khỏe bản thân, suy giảm giống nòi con người Việt Nam. Bị cáo Nguyễn Thành C và bị cáo Nguyễn Kiều H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Do vậy, cần phải xử mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra và cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định.
[4] Xét vai trò phạm tội các bị cáo: Khi thực hiện tội phạm không có sự bàn bạc thống nhất với nhau từ trước, nên các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này các bị cáo đều là người nghiện chất ma túy, khi bị cáo H lên cơn thèm chất ma túy gọi điện cho bị cáo C xin ma túy (heroine) mục đích để sử dụng, bị cáo C đồng ý gửi ma túy cho bị cáo H khối lượng 0,2035gam (heroine) do đó bị cáo C và bị cáo H đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đối với bị cáo C là người cung cấp chất ma túy nên mức hình phạt tù cao hơn bị cáo H.
[5] Bị cáo Nguyễn Thành C và bị cáo Nguyễn Kiều H đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
[6] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
- [6.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Không có.
- [6.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo C và bị cáo H đều có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo H sống ở vùng điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đang nuôi con nhỏ cần có sự chăm sóc của bị cáo, ngoài ra bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền xử phạt vi phạm hành chính là 1.500.000đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng), nên bị cáo H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[7] Về hình phạt bổ sung: Quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Tuy nhiên xét thấy các bị cáo lao động tự do không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Trong vụ án này còn có một số hành vi và đối tượng liên quan:
- [8.1] Đối với bị cáo C và bị cáo H ngoài hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy bị khởi tố, còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Trưởng Công an huyện B đã ra quyết định xử lý hành chính là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [8.2] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo C ngày 11/10/2024, hiện nay cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch người này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [8.3] Đối với bà Lục Hải Y; sinh năm 1995; nơi cư trú: Tổ A, phường N, thành phố H (Đại diện hộ kinh doanh vận tải Phạm Dũng T2) là người nhận gói hàng có chứa ma túy do bị cáo C gửi, bà Y không được biết, không kiểm tra bên trong gói hàng, không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng:
- [9.1] Đối với 01 phong bì màu trắng niêm phong kín “mẫu hoàn lại sau giám định ký hiệu Al” là vật thuộc Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 phong bì màu trắng được niêm phong kín, “Vỏ bao gói sau giám định”; 01 phong bì màu trắng “Vỏ bao gói sau cân tịnh”; 01 túi nilon màu xanh; 01 túi nilon màu trắng dán băng dính; 01 mũ bảo hiểm màu trắng; 01 mảnh giấy bạc kích thước 6,5cm x 3cm; 01 ống cuộn làm bằng giấy (½ cuộn ống làm bằng bằng nilon màu hồng kích thước 9,5cm x 0,8cm) là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- [9.2] Đối với 01 xe máy, nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, màu đen vàng, BKS: 23K1-01485, kèm theo chìa khóa xe máy; 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu LG; 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 5S, màu trắng, là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[10] Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Về án phí: Các bị cáo chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.
[12] Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành C, Nguyễn Kiều H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Thành C 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 13/10/2024.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Kiều H 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 12/10/2024.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy gồm:
- + 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu Al”, mặt sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh H và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong.
- + 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau giám định”, mặt sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh H và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong.
- + 01 (một) phong bì màu trắng, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau cân tịnh”, bên trong có toàn bộ vỏ bao, gói, túi niêm phong cũ;
- + 01 (một) túi nilon màu xanh (cũ, bẩn, đã qua sử dụng).
- + 01 (một) túi nilon màu trắng có dán băng dính (cũ, bẩn, đã qua sử dụng).
- + 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng, loại mũ lưỡi trai, có sọc kẻ đen trắng (cũ, bẩn, đã qua sử dụng).
- + 01 (một) mảnh giấy bạc có kích thước 6,5cm x 3cm, có nhiều vết đen bám dính.
- + 01 (một) ống cuộn được làm bằng giấy (½ cuộn ống được làm bằng nilon màu hồng có kích thước 9,5cm x 0,8cm).
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- + 01 (một) xe máy, nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, màu đen vàng, BKS: 23K1- 01485, số khung RLCJ31C50CY011877, số máy 31CA-014288 (cũ đã qua sử dụng, không yếm, không mặt nạ, vỏ ngoài xe nhiều chỗ bị vỡ, xe trong tình trạng han gỉ, không hoạt động được, không kiểm tra máy móc bên trong) kèm theo chìa khóa xe máy.
- + 01 (một) điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu LG, màu ghi (cũ, bẩn, đã qua sử dụng, nhiều vị trí rạn, vỡ, trầy xước sơn, điện thoại được dán băng dính, trong tình trạng không hoạt động).
- + 01 (một) điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 5S, màu trắng (cũ, hỏng, pin bị phồng, màn hình bị vỡ và bung khỏi máy, không hoạt động được).
(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).
4. Về án phí:
- - Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- - Bị cáo Nguyễn Thành C chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- - Bị cáo Nguyễn Kiều H chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thành C, Nguyễn Kiều H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Dương Văn Công |
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thành C, Nguyễn Kiều H.
