Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày 24-02-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Tuấn Anh và bà Hoàng Thị Phương Hiền

- Thư ký ghi biên bản phiên Tòa: Bà Lê Thị Tuyết –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trần Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, số A T, phường P, quận T, thành phố H đã xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2024/TLST-HS, ngày 18 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trương Thị Thùy T, sinh ngày 25/11/1983 tại tỉnh Quảng Ngãi; tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; nơi ĐKHKTT: 39 thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở hiện tại: Phòng B18.10, căn hộ N G, Chung cư P, phường A, quận T, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trương Đ, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1968; chồng: Trần Hồng P, sinh năm 1987; con: có 03 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/6/2023 đến ngày 08/6/2023. Từ ngày 09/6/2023 được thay đổi sang biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.

2. Họ và tên: Trần Tuấn A sinh ngày 17/10/1992 tại tỉnh Hà Nam; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT: xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện tại: Phòng B18.10, căn hộ N G, Chung cư P, phường A, quận T, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn T1, sinh năm 1960 và bà Đào Thị T2, sinh năm 1964; vợ: Bùi Thị Bích H, sinh năm 1990; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không.

Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sinh sống với gia đình, học hết lớp 8 thì ở nhà phụ giúp gia đình tại thôn F, xã L, huyện N, tỉnh Hà Nam. Năm 2006, bị Công an huyện L, tỉnh Hà Nam lập hồ sơ đưa vào Trường G trong thời gian 24 tháng.

Tạm giam từ ngày 25/10/2023, có mặt.

3. Họ và tên: Trần Việt T3, sinh ngày 22/7/1996 tại tỉnh Bắc Kạn; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; chỗ ở hiện tại: Phòng B18.10, căn hộ N G, Chung cư P, phường A, quận T, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán Chỉ; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1975 và bà Triệu Thị L, sinh năm 1977; anh chị em ruột: có 2 người, bị cáo là con đầu trong gia đình; vợ con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Quá trình nhân thân: Ngày 24/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tuyên phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tạm giam từ ngày 02/6/2023, có mặt.

- Bị hại:

  • + Ông Lã Trung K, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn C, xã Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang; vắng mặt.
  • + Ông Tống Ngọc C, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn Y, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
  • + Ông Võ Minh N, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Diễm H1, sinh năm 1984, nơi cư trú: xã T, huyện G, tỉnh Bạc Liêu; vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Bà Ngô Thị Tường V, sinh năm 1995; Nơi cư trú: P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Phòng 908-C1- Chung cư V, phường X, quận T, thành phố H; vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Kinh L1, sinh năm 1992; nơi cư trú: A H, phường H, quận E, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
  • + Bà Lê Thị Hoàng Y, sinh năm 1992, nơi cư trú: 22/19/2 Kiệt A đường H, quận T, thành phố H; vắng mặt.
  • + Bà Hoàng Thị Anh Đ2, sinh năm 1986, nơi cư trú: A tổ A, khu phố B, B, B, Đồng Nai; vắng mặt.
  • + Bà Ngô Thị Anh T4, sinh năm 1991, nơi cư trú: A K, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
  • + Bà Phạm Thị D, sinh năm 1989; nơi cư trú: A K, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
  • + Ông Phạm T5, sinh năm 1985, nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Đình T6, sinh năm 1971, nơi cư trú: Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông; vắng mặt.
  • + Ông Bùi Công Đ3, sinh năm 1983, nơi cư trú: B Đ, Tổ B, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
  • + Bà Lê Ngọc Mỹ L2, sinh năm 1979, nơi cư trú: A Đ, phường Đ, quận P, thành phố H; vắng mặt.
  • + Ông Trần Đình S, sinh năm 1975, nơi cư trú: A Đ, phường Đ, quận P, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về tội "Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại”:

Từ năm 2022 đến năm 2023, khi biết có nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn, không thể mang thai được, những người (bố đơn thân, mẹ đơn thân) có nhu cầu có con và có nhiều phụ nữ có nhu cầu mang thai hộ để kiếm tiền, Trương Thị Thùy T đã nảy sinh ý định tổ chức mang thai hộ nhằm mục đích thu lợi bất chính.

T đã sử dụng nhiều tài khoản Facebook tham gia vào các hội, nhóm để tìm kiếm, liên hệ với những người có nhu cầu thuê người mang thai hộ và những người phụ nữ nhận mang thai hộ, sau đó thỏa thuận giá cả mang thai hộ nhằm mục đích hưởng tiền chênh lệch, hướng dẫn các cặp vợ chồng muốn có con đi làm thủ tục khám, điều trị vô sinh, tạo phôi tại bệnh viện. Khi có người phụ nữ nhận mang thai hộ, T hướng dẫn những người này đi khám sức khỏe sinh sản và làm thủ tục cấy phôi theo hình thức mẹ đơn thân xin phôi. Ngoài ra, T còn thuê nhà ở, bố trí người chăm sóc, bồi dưỡng, theo dõi sức khỏe, đưa đi khám thai... đối với những người phụ nữ mang thai hộ cho đến khi sinh con xong. Những cặp vợ chồng hiếm muộn muốn có con phải trả tiền để người khác mang thai hộ; những người phụ nữ mang thai hộ được nhận tiền công mang thai hộ và bản thân T cùng đồng phạm được hưởng tiền chênh lệch.

Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, Trương Thị Thùy T đã thuê Trần Việt T3 cùng tham gia giúp T thực hiện một số công việc để tổ chức mang thai hộ.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã phát hiện T và T3 đã cùng nhau tổ chức 03 vụ mang thai hộ. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Người mang thai hộ là Ngô Thị Tường V (sinh năm 1995, cư trú tại P, huyện T, tỉnh Bình Thuận). Người thuê mang thai hộ là Nguyễn Kinh L1 (sinh năm 1992, cư trú tại A H, phường H, quận E, thành phố Hồ Chí Minh).

Do có nhu cầu muốn trở thành bố đơn thân, thông qua mạng xã hội Facebook, Nguyễn Kinh L1 đã liên lạc với T đặt vấn đề thuê T tìm người mang thai hộ. T đồng ý và thỏa thuận giá cả toàn bộ là 1.000.000.000 đồng, bao gồm chi phí ăn, uống, xét nghiệm, khám bệnh cho người mang thai hộ và các chi phí liên quan đến việc cấy ghép phôi và tiền công của T7.

Thông qua mạng xã hội, V biết được T tìm kiếm người mang thai hộ nên đã liên lạc với T thông qua Facebook của T (tài khoản “Quỳnh Quỳnh”), cả hai thống nhất tiền công mang thai hộ khoảng 250.000.000 đồng. Người thuê mang thai hộ sẽ do T sắp xếp và V không biết rõ được.

Sau khi tiến hành kiểm tra sức khỏe xác định V đủ điều kiện mang thai. T đã đưa L1 và V đến Bệnh viện T8 để lấy tinh trùng của L1 và trứng của V, thực hiện việc thụ tinh trong ống nghiệm sau đó cấy phôi vào cơ thể V để V mang thai. Từ khi mang thai T đã thuê địa điểm để V dưỡng thai tại phòng I Chung cư V, phường X, Thành phố H. Hằng ngày, T cung cấp mọi nhu yếu phẩm cho V, tổ chức cho V đi khám thai định kỳ. Do bị Cơ quan Công an phát hiện nên T chưa kịp thu lợi bất chính trường hợp này.

Vụ thứ hai:

Người mang thai hộ là Lê Thị Hoàng Y (sinh năm 1992, cư trú tại 22/9/2 kiệt A H, Thành phố H). Người thuê mang thai hộ là gia đình chị Hoàng Thị Anh Đ2 (sinh năm 1986, cư trú tại A tổ A, khu phố B, B, B, Đồng Nai).

Thông qua mạng xã hội Facebook, T đã liên lạc với Y và gia đình chị Đ2. Thỏa thuận tiền công mang thai hộ cho Y khoảng 280.000.000 đồng và chi phí toàn bộ của gia đình chị Đ2 là 690.000.000 đồng, bao gồm chi phí ăn, uống, xét nghiệm, khám bệnh cho người mang thai hộ và các chi phí liên quan đến việc cấy ghép phôi và tiền công của T7.

Sau khi thống nhất, T tổ chức cho vợ chồng chị Đ2 cùng Y đến Bệnh viện T9, TP Hồ Chí Minh để cấy ghép phôi thai của vợ chồng chị Đ2 vào cơ thể của Y để Y mang thai. Từ khi mang thai T đã thuê địa điểm để Y dưỡng thai tại phòng I, Chung cư V, phường X, Thành phố H. Hằng ngày, T cung cấp mọi nhu yếu phẩm cho Y, tổ chức cho Y đi khám thai định kỳ. Do bị Cơ quan Công an phát hiện nên T chưa kịp thu lợi bất chính trường hợp này.

Vụ thứ ba:

Ngô Thị Anh T4 (sinh năm 1991, cư trú tại A K, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng) và Phạm Thị D (sinh năm 1989, cư trú tại A K, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng) có quan hệ đồng giới với nhau. Do có nhu cầu có con với nhau nên D đã sử dụng tài khoản Facebook là “Anna Phạm” đăng bài trên tài khoản của hội L3 (Hội của những người đồng tính), sau một thời gian thì được những người trong hội giới thiệu liên hệ với T.

Sau khi trao đổi hai bên thống nhất cách thức thực hiện việc mang thai hộ như sau: D sẽ là người mang thai, trúng để thụ tinh là của T4 (D mang thai hộ T4), tinh trùng T tự liên hệ mua. Trinh sẽ thực hiện các thủ tục tại Bệnh viện T10, giá tiền thực hiện toàn bộ các hoạt động nêu trên là 200.000.000 đồng. Kết quả D đã mang thai và sinh được một bé trai.

Tham gia giúp sức cho Trương Thị Thùy T trong việc tổ chức mang thai hộ có Trần Việt T3. Nhiệm vụ của T3 là tiến hành làm các thủ tục, công chứng giấy tờ, mua sắm nhu yếu phẩm để phục vụ cho những người mang thai hộ là Ngô Thị Tường V và Lê Thị Hoàng Y, dẫn những người mang thai hộ là Ngô Thị Tường V, Lê Thị Hoàng Y và Phạm Thị D đi khám sức khỏe định kỳ.

Sau khi thực hiện thành công, trừ các khoản chi phí T thu lợi 26.500.000 đồng. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, T3 thu lợi bất chính tổng cộng 15.000.000 đồng.

2. Về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”:

Để bổ sung hồ sơ nộp vào các Bệnh viện thực hiện 03 vụ tổ chức tổ chức mang thai hộ như đã nêu trên. Trương Thị Thùy T đã thuê người trên mạng xã hội (T không biết thông tin, tên tuổi, địa chỉ cụ thể của những người đã làm giấy tờ giả cho T), làm giả 05 loại giấy tờ sau:

  1. 01 (một) giấy khai sinh số 212/2020 do UBND phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 18/12/2020; đặc điểm tài liệu: Tài liệu là bản sao được chứng thực bản sao tại UBND phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là UBND phường V, quận T, thành phố H);
  2. 01 (một) giấy chứng nhận kết hôn số 141/2019 do UBND xã B, thị xã B, tỉnh Đăk Lăk cấp ngày 24/5/2019; đặc điểm tài liệu: Tài liệu là bản sao được chứng thực bản sao tại UBND phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là UBND phường V, quận T, thành phố H);
  3. 01 (một) giấy chứng nhận kết hôn số 35/2019 do UBND phường H3, quận E, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/8/2019; đặc điểm tài liệu: Tài liệu là bản sao được chứng thực bản sao tại UBND phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là UBND phường P, quận T, thành phố H);
  4. 01 (một) giấy khai sinh số 39/2018 do U, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 20/8/2018; đặc điểm tài liệu: Tài liệu là bản sao được chứng thực bản sao tại UBND phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là UBND phường P, quận T, thành phố H);
  5. 01 (một) giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 67/UBND-XNTTHN do UBND phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 22/8/2022; đặc điểm tài liệu: Tài liệu là bản sao được chứng thực bản sao tại UBND phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là UBND phường P, quận T, thành phố H);

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (nay là Công an thành phố H) đã tiến hành xác minh tại: UBND phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng; UBND xã B, thị xã B, tỉnh Đăk Lăk; UBND phường H3, quận E, thành phố Hồ Chí Minh; UBND phường P; UBND phường P, thành phố H. Kết quả, các đơn vị này xác định không cấp 05 loại giấy tờ trên cho bất kỳ ai.

Sau khi thuê người làm giả, T giao 05 loại giấy tờ trên cho Trần Việt T3 để mang đi công chứng, chứng thực, sau đó T sử dụng bản công chứng, chứng thực để nộp hồ sơ vào Bệnh viện. (Bản chính T đã làm thất lạc không thu hồi được).

3. Về tội “Mua bán bộ phận cơ thể người”:

Trần Tuấn A từng làm thủ tục để hiến thận nên biết quy trình, thủ tục hiến và nhận thận để ghép tạng nên Tuấn A nảy sinh ý định tìm những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn cần bán thận để có tiền và những người bị bệnh suy thận cần ghép thận để đứng ra mua bán thận để hưởng tiền chênh lệch. Từ năm 2019, Trần Tuấn A trực tiếp đến Bệnh viện T8 để tìm kiếm người mua thận sau đó thông qua thông qua mạng xã hội hoặc thông qua các đối tượng môi giới khác để tìm người bán thận. Sau khi tìm được người bán thận, sẽ tiến hành xét nghiệm chỉ số HLA (chỉ số phù hợp gen giữa người bán thận và người được ghép thận). Khi trùng khớp chỉ số HLA giữa người ghép với người bán thì tiến hành khám nhằm kiểm tra tình trạng sức khỏe trước khi ghép. Khi đã đảm bảo sức khỏe thì sẽ chờ hội đồng của bệnh viện xét duyệt hồ sơ. Sau khi xét duyệt hồ sơ thì sẽ tiến hành ghép thận.

Từ năm 2019 đến năm 2023, Trần Tuấn A đã mua bán bộ phận cơ thể người 04 vụ, trong đó Trần Việt T3 tham gia giúp sức 3 vụ. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Năm 2019, Trần Tuấn A đã mua thận của anh Lã Trung K (sinh ngày 25/3/1986, trú tại Y, Quảng Bình, Hà Giang) bán lại cho anh Phạm T5 (sinh ngày 01/11/1985, cư trú H, H, Đà Nẵng) với chi phí là 800.000.000 đồng. Trần Tuấn A thỏa thuận với K tiền bán một quả thận là 400.000.000 đồng. Trần Tuấn A đã bố trí để K và T5 tiến hành các thủ tục khám, xét nghiệm, nhập viện. Ngày 04/12/2019, C1, T5 đã chuyển toàn bộ số tiền 800.000.000 đồng cho Trần Tuấn A và Trần Tuấn A đã thanh toán toàn bộ số tiền 400.000.000 đồng cho K theo như thỏa thuận. Quá trình thực hiện Trần Tuấn A đã cử Trần Việt T3 hỗ trợ đưa Lã Trung K đi khám, xét nghiệm, thanh toán các chi phí khám, xét nghiệm thay cho Trần Tuấn A.

Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, sau khi trừ tất cả các chi phí Trần Tuấn A thu lợi bất chính số tiền 50.000.000 đồng. Trần Việt T3 thu lợi bất chính số tiền 5.000.000 đồng.

Vụ thứ hai:

Năm 2022, Trần Tuấn A đã mua thận của anh Tống Ngọc C (sinh ngày 14/12/1993, cư trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa bán lại cho anh Nguyễn Đình T6 (sinh ngày 01/01/1971, cư trú tại Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông) với chi phí 800.000.000 đồng. Trần Tuấn A thỏa thuận với C tiền bán một quả thận là 350.000.000 đồng. Sau khi thống nhất, Trần Tuấn A đã bố trí để C và T6 tiến hành các thủ tục khám, xét nghiệm, nhập viện. Ngày 30/8/2022, C1, T6 đã chuyển toàn bộ số tiền cho Trần Tuấn A (trừ một số khoản tiền T6 đã chuyển trực tiếp vào tài khoản của C) và Trần Tuấn A đã thanh toán toàn bộ số tiền cho C theo như thỏa thuận.

Quá trình thực hiện Trần Tuấn A đã cử Trần Việt T3 hỗ trợ đưa Tống Ngọc C, Nguyễn Đình T6 đi khám, xét nghiệm ở bệnh viện, thanh toán các chi phí khám, xét nghiệm.

Sau khi trừ tất cả các chi phí Trần Tuấn A không thu được tiền lãi do phát sinh các khoản chi phí. Trần Việt T3 thu lợi bất chính số tiền 5.000.000 đồng.

Vụ thứ ba:

Năm 2022, Trần Tuấn A đã mua thận của anh Võ Minh N (sinh ngày 28/01/1986, trú tại Xã H, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh) bán lại cho anh Bùi Công Đ3 (sinh ngày 30/5/1983, trú tại phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng) với chi phí 900.000.000 đồng. Trần Tuấn A thỏa thuận với N tiền bán một quả thận là 360.000.000 đồng. Trần Tuấn A đã bố trí cho anh Võ Minh N, Bùi Công Đ3 đi khám, xét nghiệm, làm các thủ tục nhập viện.

Đến tháng 11/2022, C1, gia đình anh Đ3 đã trả toàn bộ chi phí cho Trần Tuấn A. Sau khi trừ tất cả các chi phí Trần Tuấn A thu lợi bất chính số tiền 50.000.000 đồng. (Vụ này Trần Việt T3 không tham gia).

Vụ thứ tư:

Năm 2022, Trần Tuấn A đã mua thận của chị Nguyễn Diễm H1 (sinh ngày 01/01/1984, cư trú tại xã T, huyện G, tỉnh Bạc Liêu) bán lại cho chị Lê Ngọc Mỹ L2 (sinh năm 1979, cư trú tại A Đ, phường Đ, quận P, thành phố H) với giá 900.000.000 đồng để ghép thận cho chồng là anh Trần Đình S (sinh năm 1975, cư trú tại A Đ, phường Đ, quận P, thành phố H). Trần Tuấn A đã nhận của chị L2 số tiền 250.000.000 đồng để lo chi phí đi lại, ăn uống, khám, xét nghiệm và tiền ứng cho Nguyễn Diễm Huỳnh .

Trong quá trình thực hiện hành vi, Trần Tuấn A đã cử Trần Việt T3 dẫn chị H1, anh S tiến hành các thủ tục khám, xét nghiệm tại bệnh viện. Tuy nhiên, khi sắp tổ chức ghép thận thì chị Huỳnh V1 nhiều lý do không bán thận nữa, vì vậy Tuấn A và Trần Việt T3 chưa thu lợi bất chính.

* Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus (đã qua sử dụng) của Trần Tuấn A.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max (đã qua sử dụng) của Trần Việt T3.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max (đã qua sử dụng) của Trương Thị Thùy T.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max (đã qua sử dụng) của Trương Thị Thùy T.

Tại bản Cáo trạng số 74/CT-VKS-P2 ngày 16 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế) đã truy tố các bị cáo Trương Thị Thùy T, Trần Việt T3 về tội: “Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 187 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Trần Tuấn A, Trần Việt T3 về tội “Mua bán bộ phận cơ thể người” quy định tại điểm b, d, đ khoản 2 Điều 154 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 187; điểm b, d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trương Thị Thùy T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại”; từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội và “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, phạt bổ sụng 30 triệu đồng.

Áp dụng điểm b, d, đ khoản 2, khoản 4 Điều 154; điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 187; điểm b, d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Việt T3; xử phạt bị cáo Trần Việt T3 từ 7 năm đến 07 năm 06 tháng tù, phạt bổ sung 20 triệu đồng về tội “Mua bán bộ phận cơ thể người”, từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, phạt bổ sung 20 triệu đồng về tội “Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại” và từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, phạt bổ sung 20 triệu đồng

Áp dụng điểm b, d, đ khoản 2, khoản 4 Điều 154, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Tuấn A từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, phạt bổ sung 30 triệu đồng về tội “Mua bán bộ phận cơ thể người”.

Các bị cáo Trương Thị Thùy T, Trần Việt T3, Trần Tuấn A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Trương Thị Thùy T, Trần Việt T3, Trần Tuấn A đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tình tiết như bản Cáo trạng đã truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Đã có đủ cơ sở kết luận:

Đối với hành vi “Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại”. Trong khoảng thời gian từ năm 2022 đến năm 2023, tại thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Trương Thị Thùy T cùng với sự giúp sức của Trần Việt T3 đã tổ chức 03 vụ mang thai hộ vì mục đích thương mại với phương thức: T sử dụng nhiều tài khoản Facebook tham gia vào các hội, nhóm để tìm kiếm, liên hệ với những người có nhu cầu thuê người mang thai hộ và những người phụ nữ nhận mang thai hộ, sau đó thỏa thuận giá cả mang thai hộ nhằm mục đích hưởng tiền chênh lệch. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, Trương Thị Thùy T đã thuê Trần Việt T3 cùng tham gia giúp T thực hiện một số công việc để tổ chức mang thai hộ. Bị cáo Trương Thị Thùy T đã thu lợi bất chính số tiền 26.500.000 đồng; Trần Việt T3 thu lợi bất chính số tiền 15.000.000 đồng.

Đối với hành vi “Mua bán bộ phận cơ thể người”. Từ năm 2019 đến năm 2022, tại thành phố H, Trần Tuấn A đã mua bán bộ phận cơ thể người (thận) 04 vụ, trong đó Trần Việt T3 tham gia giúp sức 3 vụ với phương thức như sau: Trần Tuấn A trực tiếp đến Bệnh viện T8 để tìm kiếm người mua thận sau đó thông qua thông qua mạng xã hội hoặc thông qua các đối tượng môi giới khác để tìm người bán thận. Sau khi tìm được người bán thận, sẽ tiến hành xét nghiệm chỉ số phù hợp gen giữa người bán thận và người được ghép thận. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, Trần Tuấn A đã thuê Trần Việt T3 cùng tham gia giúp một số công việc để thực hiện việc mua bán thận. Bị cáo Trần Tuấn A thu lợi bất chính số chính số tiền 100.000.000 đồng; Trần Việt T3 thu lợi bất chính số tiền 10.000.000 đồng.

Đối với hành vi “sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”: Để bổ sung hồ sơ nộp vào các Bệnh viện thực hiện 03 vụ tổ chức tổ chức mang thai hộ như đã nêu trên. Trương Thị Thùy T đã thuê người trên mạng xã hội (T không biết thông tin, tên tuổi, địa chỉ cụ thể của những người đã làm giấy tờ giả cho T), làm giả 05 loại giấy tờ. Sau khi thuê người làm giả, T giao 05 loại giấy tờ trên cho Trần Việt T3 để mang đi công chứng, chứng thực, sau đó sử dụng bản công chứng, chứng thực để nộp hồ sơ vào Bệnh viện. (Bản chính T đã làm thất lạc không thu hồi được).

Với hành vi nêu trên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế) truy tố các bị cáo Trương Thị Thùy T, Trần Việt T3 về tội: “Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 187 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Trần Tuấn A, Trần Việt T3 về tội “Mua bán bộ phận cơ thể người” quy định tại điểm b, d, đ khoản 2 Điều 154 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

[3] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhận thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi sử dụng các tài liệu giả của bị cáo Trương Thị Thùy T, Trần Việt T3 đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về tài liệu, giấy tờ.

Hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại của bị cáo T, T3 đã xâm phạm chế độ quản lý nhà nước trong việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để người phụ nữ mang thai hộ cho cặp vợ chồng gặp khó khăn về vấn đề này, xâm phạm đến vai trò quản lý của nhà nước đối với việc mang thai hộ là nhằm mục đích bảo vệ tính nhân đạo của các quy định pháp luật cho phép mang thai hộ, bảo vệ giá trị nhân văn của hành vi mang thai hộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương.

Hành vi mua bán bộ phận cơ thể người của bị cáo Trần Tuấn A, Trần Việt T3 không những xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khỏe của người khác, mà còn xâm phạm các quy định của pháp luật về hiến, tặng mô hoặc bộ phận cơ thể người vì mục đích nhân đạo.

Bị cáo Trương Thị Thùy T là người đã liên hệ với người có nhu cầu thuê người mang thai hộ và những người phụ nữ nhận mang thai hộ, thỏa thuận giá cả mang thai hộ nhằm mục đích hưởng tiền chênh lệch, sau đó T liên hệ với T3 để thuê T3 cùng tham gia giúp T thực hiện một số công việc để tổ chức mang thai hộ, bị cáo T thuê người liên hệ để làm giả tài liệu rồi giao cho T3 mang đi công chứng, chứng thực để sử dụng làm hồ sơ nộp vào Bệnh viện nên bị cáo T giữ vai trò chính, bị cáo T3 giữ vai trò sau T.

Bị cáo Trần Tuấn A là người liên hệ, thỏa thuận với những người mua, bán thận nên bị cáo giữ vai trò chính. Bị cáo T3 có hành vi giúp bị cáo Trần Tuấn A dẫn người mua, bán thận tiến hành các thủ tục khám, xét nghiệm tại bệnh viên nên bị cáo T3 có vai trò sau A.

Xét thấy cần phải xử phạt nghiêm và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng người tội phạm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét một phần vì cả 3 bị cáo T, A, T3 không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Trương Thị Thùy T và Trần Việt T3 đã nộp lại tiền thu lợi bất chính nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Do các bị cáo không có công việc ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[4] Về áp dụng biện pháp tư pháp: Buộc các bị cáo phải nộp sung vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội cụ thể như sau:

  • Trương Thị Thùy T: 26.500.000 đồng.
  • Trần Tuấn A: 100.000.000 đồng.
  • Trần Việt T3: 25.000.000 đồng

Đối với số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) do bị cáo Trương Thị Thùy T và Trần Việt T3 giao nộp tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T. Tại phiên tòa: bị cáo T và bị cáo T3 khai trong số tiền 25.000.000 đồng có của bị cáo T 15.000.000 đồng, bị cáo T3 10.000.000 đồng, nên được khấu trừ.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Đối với các vật chứng là: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus (đã qua sử dụng) của Trần Tuấn A; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max (đã qua sử dụng) của Trần Việt T3; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max (đã qua sử dụng) của Trương Thị Thùy T; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max (đã qua sử dụng) của Trương Thị Thùy T. Các vật chứng nêu trên đã được các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, do đó cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

[6] Về án phí: Buộc các bị cáo Trương Thị Thùy T, Trần Tuấn A, Trần Việt T3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Trương Thị Thùy T, Trần Việt T3 phạm tội “Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại” và “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; các bị cáo Trần Tuấn A, Trần Việt T3 phạm tội “Mua bán bộ phận cơ thể người”.

2. Về hình phạt:

[2.1] Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 187; điểm b, d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trương Thị Thùy T 01 năm 02 tháng tù về tội “Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại” và 02 năm 03 tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 03 năm 05 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/6/2023 đến ngày 08/6/2023.

[2.2] Áp dụng điểm b, d, đ khoản 2 Điều 154; điểm b khoản 2 Điều 187; điểm b, d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Việt T3 07 năm tù về tội “Mua bán bộ phận cơ thể người”; 01 năm tù về tội “Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại”; 02 năm tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của cả ba tội là 10 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 02/6/2023.

[2.3] Áp dụng điểm b, d, đ khoản 2 Điều 154, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Tuấn A 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán bộ phận cơ thể người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 25/10/2023.

3. Về áp dụng biện pháp tư pháp:

Buộc các bị cáo phải nộp sung vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội cụ thể như sau:

  • - Bị cáo Trương Thị Thùy T: 26.500.000 đồng,
  • - Bị cáo Trần Tuấn A: 100.000.000 đồng.
  • - Bị cáo Trần Việt T3: 25.000.000 đồng,

Tổng số tiền bị cáo Trương Thị Thùy T và Trần Việt T3 đã nộp 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).Trong đó: Bị cáo Trương Thị Thùy T số tiền 15.000.000 đồng, bị cáo Trần Việt T3 số tiền 10.000.000 đồng (Số tiền này đã được chuyển vào Kho bạc Nhà nước tỉnh Thừa Thiên H2 theo Giấy ủy nhiệm chi ngày 29/2/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (nay là Công an thành phố H) được khấu trừ vào số tiền thu lợi bất chính. Bị cáo Trương Thị Thùy T còn phải nộp 11.500.000 đồng, Trần Việt T3 còn phải nộp 15.000.000 đồng.

4. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus của Trần Tuấn A; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max của Trần Việt T3; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max của Trương Thị Thùy T.

Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an Tỉnh T (nay là Cơ quan CSĐT Công an thành phố H và Cục thi hành dân sự Tỉnh T (nay là Cục thi hành án dân sự thành phố Huế) ngày 26/02/2024.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Trương Thị Thùy T, Trần Tuấn A, Trần Việt T3, mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - VKSNDCC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - Phòng PV06- CA thành phố Huế;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Huế
  • - Cục THADS thành phố Huế;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người làm chứng;
  • - Lưu hồ sơ; Tòa HS, Tổ HCTP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Thái Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về vụ án hình sự

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger