Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS - ST

Ngày: 19 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Triệu Cẩm Chi

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Triệu Thị Tình

2. Ông Trần Tô Hiệp

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Diễm - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Lê Minh Cường - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST - HS ngày 15 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Đình N, tên gọi khác: Không; sinh ngày 07/7/1985; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm C, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Đình T và bà: Hoàng Thị N1; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; Có vợ là Ma Thị T1, sinh năm 1986; Có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 24/6/2009, tại Bản án HSST số 15/2009/HSST của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã xử phạt Lý Đình N 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Bị cáo chưa chấp hành hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/11/2024 đến nay. Hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Ông Mai Ngọc S (tên gọi khác Ma Đình T2), sinh năm 1942 (đã chết năm 2015)

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • + Ông Ma Đình Đ, sinh năm 1970
  • Nơi cư trú: Xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  • + Bà Ma Thị T3, sinh năm 1971
  • + Ông Ma Đình T4, sinh năm 1973
  • Cùng nơi cư trú: Xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
  • + Bà Ma Thị H, sinh năm 1974
  • Nơi cư trú: Xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
  • + Bà Ma Thị L, sinh năm 1978
  • Nơi cư trú: Xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên
  • + Ông Ma Đình H1, sinh năm 1980
  • Nơi cư trú: Thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

Người đại diện theo ủy quyền của bà T3, ông T4, bà H, bà L, ông H1: Ông Ma Đình Đ, sinh năm 1970, có địa chỉ cư trú nêu trên. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Đăng T5, sinh năm 1987 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Người làm chứng: Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1984

Nơi cư trú: Xóm B, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 5/2009, Lý Đình N có nhờ ông Mai Ngọc S, sinh năm 1942, trú tại: xóm L, xã L, huyện Đ là thầy cúng làm bùa yêu, bùa xin việc để N có thể thuận lợi xin được công việc lái xe. Tuy nhiên sau khi đưa tiền và thực hiện hết các yêu cầu mà ông S đề ra nhưng không thấy hiệu quả nên N đã yêu cầu ông S trả lại tiền.

Sáng ngày 21/6/2009, Lý Đình N rủ Trần Đăng T5, sinh năm 1977, trú tại Tổ dân phố P, thị trấn C, huyện Đ cùng vào nhà ông S để đòi lại tiền. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày T5 đi xe máy chở N vào nhà Hoàng Văn D, sinh năm 1984, trú tại: xóm B, xã K, huyện Đ rủ D đi cùng. Sau đó T5 chở N và D vào nhà ông S nhưng ông S không có nhà, cả 3 người ra chợ L1 ngồi chơi và gặp anh Bế Văn T6 (bạn của D), trú tại xóm L, xã L, huyện Đ anh T6 mời D, T5 và N về nhà mình ăn cơm, cả ba đồng ý. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày N mượn điện thoại của T5 gọi cho ông S hỏi có ở nhà không, lúc này ông S ở nhà nên N, T5 và D đi đến nhà ông S. Khi đến nhà ông S, N rủ ông S ra quán bia của anh Ma Đình Q ở gần nhà ông S uống bia và nói chuyện xin lại tiền. Khi ra quán bia N, D và T5 ngồi một bàn còn ông S không ngồi cùng với N mà đi vào phía trong ngồi nói chuyện với người khác, N biết là ông S cố tình lẩn tránh việc nói chuyện để không trả lại tiền cho mình nên N đã nảy ra ý định đi vào nhà ông S lấy trộm xe máy. Thấy ông S đang nói chuyện với người khác không để ý N nói với T5 và D là đi ra ngoài có việc. Sau đó N đi bộ sang nhà ông S, quan sát xung quanh không có ai nên N lấy xe máy nhãn hiệu FANLIM, màu nâu, BKS: 20L3-2388 của ông S dựng ở sân, ổ khoá vẫn cắm chìa và dắt xe máy ra ngoài cổng nổ máy, điều khiển xe đi ra gần quán bia của anh Q và gọi T5, D cùng đi về. Khi đến Đ, xã K, Nga mượn điện thoại của T5 gọi điện yêu cầu ông S trả mình 4.000.000đ (bốn triệu đồng) nếu không sẽ mang xe máy đi cắm để lấy tiền. N hẹn ông S mang tiền ra ngã 5, thuộc tổ dân phố T, thị trấn C để chuộc lại xe, ông S biết N đã lấy trộm xe máy nên đã trình báo Công an huyện Đ. Trên đường đi N tự tháo biển số xe máy để vào giỏ đựng đồ trước đầu xe, khi đi đến xã K do xe máy của T5 bị hết xăng nên N cùng T5 đem xe máy của T5 gửi tại nhà ông Trần Văn H2, ở xóm B, xã K, huyện Đ. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày N rủ T5 và D đi ra ngã 5, thị trấn C, huyện Đ. Khi đến ngã 5, tổ dân phố T, thị trấn C, huyện Đ, N mượn điện thoại của T5 để gọi cho ông S thì bị lực lượng Công an huyện Đ bắt giữ. Sau khi N bị bắt T5 và D mới biết N đã lấy trộm xe máy của ông S.

Quá trình điều tra, bị cáo Lý Đình N bỏ trốn khỏi địa phương

Tại Kết luận định giá tài sản số 19/KL - ĐG ngày 13/7/2009 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định: 01 xe mô tô màu nâu, nhãn hiệu FANLIM, biển kiểm soát: 20L3 - 2388 có giá trị là 3.500.000₫ (ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra, anh T5, anh D xác định chỉ được N rủ vào nhà ông S để xin lại tiền. Không biết ý định trộm cắp xe mô tô ông S của N và việc thực hiện hành vi trộm cắp xe của N. Chỉ tới khi N bị Công an bắt giữ mới biết sự việc.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Lý Đình N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Đồng thời cũng thừa nhận không trao đổi, bàn bạc hay cho anh D, anh T5 về ý định trộm cắp xe máy ông S của mình. Sau khi thực hiện việc trộm cắp xong anh T5, anh D cũng không hay biết, chỉ đến khi bị cáo bị bắt anh T5, anh D mới biết.

Vật chứng của vụ án:

  • - Một xe mô tô BKS 20L3 - 2388. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả cho bị hại ông Mai Ngọc S quản lý, sử dụng.
  • - Một điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA của anh Trần Đăng T5, là chiếc điện thoại ngày 21/6/2009 N đã sử dụng để gọi cho ông S. Xét thấy T5 không biết việc N có hành vi trộm cắp tài sản xe mô tô BKS 20L3- 2388 của ông S. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả cho Trần Đăng T5 quản lý, sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu.

Tại đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự đề ngày 20/12/2024 ông Ma Đình Đ người đại diện hợp pháp của người bị hại, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp khác của ông Mai Ngọc S đề nghị giảm nhẹ hình phạt, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Lý Đình N.

Tại Cáo trạng số 05/CT - VKSĐH, ngày 14/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lý Đình N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lý Đình N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với Bản án Hình sự sơ thẩm số 15/2009/HSST ngày 24/6/2009 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã xử phạt bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 45 tháng tù đến 48 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Trong lời nói sau cùng bị cáo xác định rất ân hận về hành vi của mình, xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo mức án thấp để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về áp dụng pháp luật:

Hành vi của bị cáo Lý Đình N diễn ra ngày 21/6/2009, thời điểm Bộ luật hình sự năm 1999 đang có hiệu lực pháp luật. Căn cứ theo quy định tại Điều 7 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội quyết định áp dụng Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) để áp dụng luật nội dung trong việc xem xét, giải quyết vụ án.

[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo, thấy:

Tháng 5/2009 Lý Đình N có nhờ ông Mai Ngọc S làm bùa yêu, bùa để xin việc, tuy nhiên sau khi đưa tiền và thực hiện hết những điều ông Mai Ngọc S đề ra nhưng không thấy hiệu quả, Lý Đình N đã yêu cầu ông Mai Ngọc S trả lại tiền nhưng ông Mai Ngọc S không trả. Khoảng 15 giờ ngày 21/6/2009, khi thấy ông Mai Ngọc S đang ngồi nói chuyện với người khác ở ngoài quán bia và không để ý, Lý Đình N đã sang nhà ông Mai Ngọc S, quan sát xung quanh không thấy ai, nên N đã lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu FANLIM, BKS 20L3- 2388 của ông Mai Ngọc S, có giá trị là 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với đơn trình báo của bị hại, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu được và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Lý Đình N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 là Bộ luật hình sự đang có hiệu lực tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Nội dung Điều 138 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.”

[4]. Xét tính chất vụ án và hành vi của bị cáo: Tính chất của vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Nên cần được xử lý nghiêm, đảm bảo tính răn đe của pháp luật và phòng ngừa chung.

[5]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng có nhân thân: Ngày 24/6/2009, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2009/HSST, Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã xử phạt Lý Đình N 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo chưa chấp hành hình phạt tù của bản án.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, đại diện hợp pháp của bị hại đồng thời cũng là đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 49 Bộ luật hình sự năm 1999.

[6]. Về hình phạt:

Căn cứ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. HĐXX thấy: Khi lượng hình cần áp dụng hình phạt tù, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung; tuy nhiên, cũng sẽ xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[8]. Vật chứng của vụ án:

  • - Xe mô tô BKS 20L3 - 2388. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả cho bị hại ông Mai Ngọc S quản lý, sử dụng là phù hợp.
  • - Điện thoại di động Nhãn hiệu NOKIA của anh Trần Đăng T5, là chiếc điện thoại ngày 21/6/2009 N đã sử dụng để gọi cho ông S. Xét thấy T5 không biết việc N có hành vi trộm cắp tài sản xe mô tô BKS 20L3- 2388 của ông S. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả cho Trần Đăng T5 quản lý, sử dụng là phù hợp.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[11]. Các nội dung có liên quan khác:

Anh Trần Đăng T5 và Hoàng Văn D ngày 21/6/2009 có đi cùng Lý Đình N vào xã L, huyện Đ nhưng anh T5, anh D không biết N lấy trộm xe của ông Mai Ngọc S. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa không xử lý đối với anh T5, anh D là phù hợp.

Hồ sơ thể hiện ông Mai Ngọc S có nhận tiền của Lý Đình N để làm bùa yêu, bùa xin việc, hành vi của ông S có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng ông Mai Ngọc S đã chết năm 2015. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa không xem xét xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lý Đình N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009); Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

    Xử phạt: Bị cáo Lý Đình N 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với Bản án Hình sự sơ thẩm số 15/2009/HSST ngày 24/6/2009 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã xử phạt bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 45 (bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

    Quyết định tạm giam bị cáo Lý Đình N 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lý Đình N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

    Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án. Vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại ông Ma Đình Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Trần Đăng T5 báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết/.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Định Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện Định Hóa;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Định Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Định Hóa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - UBND xã Kim Phượng, huyện Định Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, bộ phận Hình sự.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Triệu Cẩm Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS - ST ngày 19/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 06/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009); Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Xử phạt: Bị cáo Lý Đình Ng 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với Bản án Hình sự sơ thẩm số 15/2009/HSST ngày 24/6/2009 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã xử phạt bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 45 (bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger