Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày 10 - 02- 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Trinh và bà Nguyễn Thị Huyền.

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Huy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Đào Xuân Thiều - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024; các Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2024/HSST-QĐ ngày 20 tháng 12 năm 2024 và Quyết định số 02/2025/HSST-QĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Vũ Thị H, sinh năm 1988 tại Hà Nam; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH V1; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc D và bà Phan Thị T; có chồng là Trần Văn H1 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21 tháng 5 năm 2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hải Y - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; có mặt.

- Bị hại: Chị Lê Thị H2, sinh năm 1984 và anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1984; cùng địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam; chị H2 có mặt, anh S vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Vũ Văn H3, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • + Chị Đặng Thị Phương T1, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố P, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Trường K, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • + Anh Tường Duy T2, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện K, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Duy R, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; vắng mặt.
  • + Anh Đỗ Văn H4, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • + Anh Đặng Gia Q, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • + Anh Lê Văn D1, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • + Anh Trịnh Văn V, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
  • + Anh Đặng Văn Thiện Ú, sinh năm 1989; địa chỉ: Xóm A, xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Trần Văn H1, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 01/2022, Vũ Thị H là Giám đốc Công ty TNHH V1, địa chỉ công ty tổ dân phố T, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam đặt vấn đề với chị Lê Thị H2 mua xe ô tô tải rồi cho H thuê lại thì được chị H2 đồng ý. Hai bên thống nhất tiền thuê xe ô tô là 1.000 đồng/01 triệu/ 01 ngày (căn cứ vào giá của từng xe ô tô tại thời điểm chị H2 mua). Từ tháng 01/2022 đến tháng 5/2022, chị H2 mua 06 chiếc xe ô tô tải rồi cho H thuê lại, cụ thể:

Ngày 22/01/2022, chị H2 mua 03 chiếc xe ô tô tải gồm 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, loại xe tải có mui, biển kiểm soát 29C-113.47 với số tiền là 245.000.000 đồng; 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, loại xe tải thùng kín, biển kiểm soát 89C-025.11 với số tiền là 410.000.000 đồng; 01 xe ô tô nhãn hiệu DONGFENG, loại xe tải có mui, biển số 90H-015.17 với số tiền là 628.000.000 đồng.

Ngày 24/5/2022, chị H2 mua 02 xe ô tô tải gồm 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, loại xe tải thùng kín, biển kiểm soát 90H-022.05 với số tiền là 635.000.000 đồng; 01 xe ô tô nhãn hiệu DONGFENG, loại xe tải thùng kín, biển kiểm soát 90H-022.12 với số tiền là 730.000.000 đồng.

Cũng trong thời gian này, chị H2 đã mua 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, loại xe tải thùng kín (chị H2 không nhớ chính xác ngày mua xe) sau đó chị H2 làm thủ tục sang tên đổi thành biển kiểm soát 90H-022.45 với số tiền là 100.000.000 đồng.

Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2022 đến tháng 11/2022, lấy lý do cần tiền để kinh doanh, H nhiều lần vay của chị H2 với tổng số tiền 4.500.000.000 đồng. Do không có tiền trả nợ chị H2 nên H bán căn nhà của vợ chồng H đang ở được xây trên thửa đất số 12 lô D, tờ bản đồ số PL15, diện tích 88,6m2 thuộc khu đất phục vụ giải phóng mặt bằng dự án khu công nghiệp Đ mở rộng tại phường B, thị xã D cho chị H2 với giá 2.900.000.000 đồng và bán cho chị H2 05 chiếc xe ô tô gồm 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, loại xe tải có mui, biển kiểm soát 34M-4937 với giá 300.000.000 đồng; 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, loại xe tải thùng kín, biển kiểm soát 29C-917.08 với giá 200.000.000 đồng; 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, loại xe tải thùng kín, biển kiểm soát 89C-025.11 với giá 200.000.000 đồng; 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, loại xe tải có khung mui, biển kiểm soát 29C-149.76 với giá 500.000.000 đồng; 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI Elantra, biển kiểm soát 90A-114.49 với giá 300.000.000 đồng được tổng số tiền 1.600.000.000 đồng để đối trừ toàn bộ số tiền 4.500.000.000 đồng H nợ chị H2.

Sau đó, H thuê lại của chị H2 tổng số 11 chiếc xe ô tô lần lượt có biển số 29C-113.47, 90H-012.51, 90H-015.17, 90H-022.05, 90H-022.12, 90H-022.45, 34M-4937, 29C-917.08, 89C-025.11, 29C-149.76, 90A-114.49. Tuy nhiên, tại thời điểm này giữa chị H2 và H chưa làm hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê xe ô tô đối với 05 chiếc xe mà chị H2 mua của H. Ngày 01/5/2023, chị H2 và H thiết lập 05 bản Hợp đồng bán xe và Hợp đồng thuê xe đối với 11 chiếc xe ô tô trên. Do công việc kinh doanh vận tải gặp khó khăn, H bị nhiều người đòi nợ và không có tiền trả nên H đã nảy sinh ý định bán một số chiếc xe ô tô trong tổng số 11 chiếc xe ô tô đang thuê của chị H2 để lấy tiền trả nợ. Để thực hiện được việc bán những chiếc xe này, H đã tự soạn thảo các hợp đồng mua bán xe ô tô sau đó đến gặp chị H2 và đưa ra thông tin không có thật với nội dung “Chị giúp đỡ em, vì em làm chủ doanh nghiệp vận tải mà không có chiếc xe nào nên họ không tin tưởng, chị ký cho em vài hợp đồng mua bán xe để em đi ký hợp đồng cho dễ”. Tin tưởng thông tin H đưa ra, chị H2 đã ký khoảng 05 bản hợp đồng mua bán xe ô tô do H đưa. Ngoài ra, ngày 20/7/2023, H lấy lý do “Công an điều tra vụ tai nạn liên quan đến chiếc xe ô tô biển số 90H-012.51, yêu cầu phải làm việc với chủ xe nên H đề nghị vợ chồng chị H2 làm thủ tục sang tên tạm thời để giải quyết với Công an xong sẽ làm thủ tục sang tên lại cho vợ chồng chị H2”, tin tưởng H nên anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1984, trú tại tổ dân phố N,phường Đ, thị xã D (là chồng chị H2) và chị H2 đã cùng H đến Văn phòng C, địa chỉ số B Nguyên Phi Ỷ, tổ dân phố N, phường Đ, thị xã D để công chứng hợp đồng mua bán xe ô tô.

Khi có được những hợp đồng mua bán xe ô tô, tháng 5/2023 H đã bán cho anh Vũ Văn H3, sinh năm 1993, trú tại tổ dân phố N, phường Đ, thị xã D 03 chiếc xe ô tải với tổng số tiền là 930.000.000 đồng. Trong đó, xe ô tô tải biển kiểm soát 90H-022.12 chủ xe Công ty TNHH T7, địa chỉ Nguyễn Hữu T3, Đ, D với giá 400.000.000 đồng; xe ô tô tải biển kiểm soát 90H-022.05 chủ xe Công ty TNHH T7 với giá 130.000.000 đồng; xe ô tô tải biển kiểm soát 90H-022.45 chủ xe Công ty TNHH T7 với giá 400.000.000 đồng. Anh H3 sử dụng tài khoản ngân hàng số 1026609550 mở tại Ngân hàng V2 và tài khoản ngân hàng S1 mở tại Ngân hàng M1 chuyển khoản 930.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng số [...] mở tại Ngân hàng M2 của H. Sau đó, trong khoảng thời gian từ tháng 7/2023 đến tháng 11/2023, anh H3 đã bán 03 chiếc xe ô tô này cho những người không quen biết ở tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Vĩnh Phúc. Khi bán xe ô tô anh H3 và người mua xe không thiết lập giất tờ mua bán, ngoài thông tin trên anh H3 không cung cấp được nhân thân, lai lịch của những người mua xe này, nên Cơ quan điều tra không thu hồi được xe ô tô.

Cũng tháng 5/2023, H bán cho một người nam giới người ở tỉnh Yên Bái (H không nhớ được nhân thân, lai lịch) 02 chiếc xe ô tô tải được 250.000.000 đồng. Trong đó, xe ô tô tải biển kiểm soát 34M-4937, chủ xe Phạm Khắc T4 ở H, B, Hải Dương với giá 100.000.000 đồng, xe ô tô tải biển kiểm soát 29C-149.76, chủ xe Vũ Thị T5 ở L, X, Đ, Hà Nội với giá 150.000.000 đồng. H và người mua xe ô tô thanh toán tiền mua xe bằng tiền mặt và không thiết lập giấy tờ giao nhận xe nên Cơ quan điều tra không thu hồi được xe ô tô.

Ngày 12/6/2023, H bán cho chị Đặng Thị Phương T1, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố P, phường Đ, thị xã D chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 89C-025.11, mang tên Đỗ Thị L ở Đ, K, Hưng Yên với giá 50.000.000 đồng. Chị T1 sử dụng tài khoản ngân hàng số 0911367333 mở tại Ngân hàng M2 chuyển khoản số tiền 50.000.000 đồng vào tài khoản số 5666666689999 mở tại Ngân hàng M2 của H. Sau đó, chị T1 đã bán chiếc xe ô tô này cho một người không quen biết ở tỉnh Hà Tĩnh với giá 70.000.000 đồng, người này trả tiền mua xe cho chị T1 bằng tiền mặt, và không thiết lập giấy tờ mua bán xe ô tô ngoài thông tin trên chị T1 không cung cấp được nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra không thu hồi được xe ô tô.

Trong khoảng thời gian từ ngày 19/6/2023 đến ngày 10/8/2023, H đã bán 03 chiếc xe ô tô tải với tổng số tiền là 600.000.000 đồng cho anh Nguyễn Trường K, sinh năm 1973, trú tại thôn C, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam là người kinh doanh xe ô tô cũ. Trong đó, xe ô tô tải biển kiểm soát 90H-015.17, chủ xe Công ty TNHH T7, địa chỉ Nguyễn Hữu T3, Đ, D với giá 300.000.000 đồng, xe ô tô tải biển kiểm soát 90H-012.51, mang tên Nguyễn Văn S với giá 180.000.000 đồng, xe ô tô tải biển kiểm soát 29C-917.08, chủ xe Trương Minh N ở xóm N, V, Đ, Hà Nội với giá 120.000.000 đồng. Anh K sử dụng tài khoản ngân hàng số 3830119719999 mở tại Ngân hàng M2 chuyển khoản 600.000.000 đồng vào tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng M2 của H. Sau đó, trong tháng 10 và tháng 11/2023 anh K đã bán 02 chiếc xe ô tô tải cho anh Đỗ Văn H4, sinh năm 1984, trú tại thôn V, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam, là người kinh doanh xe ô tô cũ với tổng số tiền là 305.000.000 đồng. Trong đó xe ô tô tải biển kiểm soát 90H-012.51 với giá 220.000.000 đồng, xe ô tô tải biển kiểm soát 29C-917.08 với giá 85.000.000 đồng. Anh K bán chiếc xe ô tô tải biển số 90H-015.17 cho anh Tường Duy T2, sinh năm 1990, trú tại thôn C, xã L, huyện K, tỉnh Hưng Yên với giá 258.000.000 đồng. Ngày 14/11/2023, anh T2 bán chiếc xe ô tô này cho ông Nguyễn Duy R, sinh năm 1975 ở thôn L, xã A, huyện Q, Thái Bình với giá 360.000.000 đồng nhưng không làm thủ tục sang tên. Sau đó, ông R đã bán cho một người nam giới, ông R không xác định được tên, tuổi và địa chỉ với giá 200.000.000 đồng, nên Cơ quan điều tra không thu hồi được xe ô tô.

Ngày 16/11/2023, anh H4 bán chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 90H-012.51 cho anh Đặng Gia Q, sinh năm 1989, ở thôn T, xã T, huyện B với giá 266.000.000 đồng. Anh H4 có trách làm thủ tục sang tên cho anh Q, sau đó anh Q đã bán lại cho Lê Văn D1, sinh năm 1984, trú tại thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam chiếc xe ô tô này với giá 290.000.000 đồng, anh Q đã làm thủ tục sang tên cho anh D1 và được Công an huyện B đăng ký, cấp biển số mới là 90C-131.52 mang tên anh Lê Văn D1. Hiện xe ô tô biển kiểm soát 90C-131.52 đang do anh D1 quản lý, sử dụng.

Tháng 10/2023, anh H4 bán chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 29C-917.08 cho anh Trịnh Văn V, sinh năm 1982, ở tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình với giá 97.000.000 đồng. Sau đó anh V bán cho anh Đặng Văn T6 Ú, sinh năm 1989 ở xóm A, xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình chiếc xe ô tô này với giá 140.000.000 đồng, anh Ú yêu cầu anh V phải làm thủ tục sang tên và anh V đã làm thủ tục sang tên cho anh Ú và được Công an huyện K đăng ký, đăng ký cấp biển số mới là 35C-145.67 mang tên Đặng Văn Thiện Ú. Hiện xe ô tô biển kiểm soát 35C-145.67 đang do anh Ú quản lý, sử dụng.

Như vậy, từ tháng 5/2023 đến tháng 8/2023 H đã nhiều lần bán tổng số 09 chiếc xe ô tô tải thuê của chị Lê Thị H2 cho người khác chiếm đoạt tổng số tiền là 1.830.000.000 đồng (930.000.000 đồng + 250.000.000 đồng + 50.000.000 đồng + 600.000.000 đồng).

Tháng 8/2023, không thấy H trả tiền thuê xe theo thoả thuận nên chị H2 yêu cầu H trả lại xe ô tô đã thuê. H đã trả lại cho chị H2 chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI Elantra, biển kiểm soát 90A-114.49.

Tháng 12/2023, chị H2 phát hiện H đã bán tổng số 09 chiếc xe ô tô Hân thuê của chị H2 nên chị H2 đã làm đơn tố giác hành vi phạm tội của H với Cơ quan điều tra Công an tỉnh H và giao nộp 01 Giấy cam kết trả nợ đề ngày 15/8/2023; 01 Hợp đồng thuê xe số 01/2023/HĐTX đề ngày 01/5/2023; 05 Hợp đồng mua bán từ số 01 đến số 05/2023/HĐMB cùng ngày 01/5/2023; 01 Quyết định về việc chấm dứt hợp đồng thuê xe số 01/2023/HĐTX đề ngày 11/12/2023; lịch sử giao dịch tài khoản Ngân hàng số 2109198488888.

Vũ Thị H giao nộp 01 bản chính Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH MTV, mã số doanh nghiệp G; 01 bản chính Thông báo về cơ quan thuế quản lý đề ngày 22/10/2019; 01 Giấy bán xe đề ngày 06/3/2018; 01 Giấy bán xe ô tô đề ngày 11/10/2018; 01 bản chính Giấy bán xe ô tô đề ngày 14/01/2019; 01 bản phô tô Giấy bán xe đề ngày 26/8/2020; 01 bản chính Giấy bán xe đề ngày 12/10/2018; 01 bản chính Giấy chuyển nhượng xe đề ngày 09/5/2015.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 24/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Hà Nam kết luận: xe ô tô nhãn hiệu KIA mang biển số 35C- 145.67 chưa đủ cơ sở định giá tại thời điểm tháng 8/2023 do không có hồ sơ tài liệu liên quan đến tình trạng tài sản tại thời điểm tháng 8/2023; xe ô tô nhãn hiệu THACO mang biển số 90C-131.52 chưa đủ cơ sở định giá tại thời điểm tháng 7/2023 do không có hồ sơ tài liệu liên quan đến tình trạng tài sản tại thời điểm tháng 7/2023. Tại thời điểm tháng 9/2024 xe ô tô nhãn hiệu KIA, biển số 35C- 145.67 giá trị còn lại của xe 30%, đơn giá 309.400.000 đồng, thành tiền 92.820.000 đồng; xe ô tô nhãn hiệu THACO, biển số 90C-131.52 giá trị còn lại của xe 40%, đơn giá 484.600.000 đồng, thành tiền 193.840.000 đồng. Đối với 07 xe ô tô còn lại (xe ô tô có biển kiểm soát 89C-025.11, 90H-015.17, 90H-022.05, 90H-022.45, 90H-022.12, 34M-4937, 29C-149.76) Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H chưa xác minh, tạm giữ được do đó không có đủ cơ sở để tiến hành định giá tài sản.

Kết quả tra cứu thông tin xe ô tô vật chứng xác định các xe ô tô có biển kiểm soát 90H-012.51, 90H-015.17, 90H-022.05, 90H-022.12, 90H-022.45, 34M-4937, 29C-917.08, 89C-025.11, 29C-149.76, 29C-113.47 không nằm trong cơ sở dữ liệu ô tô vật chứng.

Sao kê lịch sử giao dịch tài khoản ngân hàng số [...] và tài khoản số 5666666689999 đều mang tên Vũ Thị H mở tại Ngân hàng M2 phát hiện có các giao dịch anh Vũ Văn H3, chị Đặng Thị Phương T1, anh Nguyễn Trường K chuyển tiền mua xe ô tô cho H; tài khoản Ngân hàng số 1020613452 mang tên Đặng Gia Q có các giao dịch chuyển tiền cho Đỗ Văn H4.

Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị hại chị Lê Thị H2 yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị 09 chiếc xe ô tô và tiền thuê xe, với tổng số tiền là 2.266.000.000 đồng. Đến nay, bị cáo đã ủy quyền cho chồng là Trần Văn H1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất tại thị xã D của vợ chồng bị cáo cho chị H2 để bồi thường, khắc phục hậu quả, vì vậy chị H2 không yêu cầu Tòa án giải quyết phần bồi thường thiệt hại.

Tại Cáo trạng số 89/CT-VKS-P2 ngày 08 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố Vũ Thị H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Thị H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 4, khoản 5 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 48; Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Thị H từ 13 năm 06 tháng đến 14 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo Vũ Thị H từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Về trách nhiệm dân sự, tại phiên tòa bị hại chị Lê Thị H2 không yêu cầu bị cáo Vũ Thị H phải bồi thường nên không phải giải quyết. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam về tội danh và điều khoản truy tố. Nhận thấy, sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có bác và chú ruột là liệt sĩ; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có 03 con còn nhỏ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt chính và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo Vũ Thị H nhất trí với quan điểm của người bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại Lê Thị H2 không yêu cầu bị cáo bồi thường và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thị H khai nhận hành vi của mình đúng như Cáo trạng số 89/CT-VKS-P2 ngày 08 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã xác định. Lời khai của bị cáo Vũ Thị H là phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Tháng 5/2023, Vũ Thị H thỏa thuận thuê xe ô tô tải của chị Lê Thị H2 để kinh doanh vận tải. Sau đó, chị H2 đã giao cho H 11 chiếc xe ô tô tải có biểm kiểm soát 90H-012.51, 90H-015.17, 90H-022.05, 90H-022.12, 90H-022.45, 34M-4937, 29C-917.08, 89C-025.11, 29C-149.76, 29C - 113.47 và 90A - 114.49. Sau khi sử dụng một thời gian, Vũ Thị H nảy sinh bán các xe ô tô đã thuê của chị H2 để lấy tiền trả nợ. Để bán được các xe ô tô đã thuê, lấy lý do công ty của H phải có xe ô tô mới dễ ký hợp đồng, xe ô tô đang bị tai nạn cần làm việc với chủ xe, H đề nghị chị H2 tạo điều kiện ký các hợp đồng chuyển nhượng lại một số xe ô tô cho H. Tin tưởng, chị H2 đã ký các hợp đồng chuyển nhượng lại một số xe ô tô cho H. Sau khi có các hợp đồng chuyển nhượng, H đã bán cho anh Vũ Văn H3 là người kinh doanh xe ô tô cũ 03 chiếc xe ô tải có biển kiểm soát lần lượt là 90H-022.12, 90H-022.05, 90H-022.45 với tổng số tiền 930.000.000 đồng; bán cho anh Nguyễn Trường K là người kinh doanh xe ô tô cũ 03 chiếc xe ô tô tải có biển kiểm soát lần lượt là 90H-015.17, 90H-012.51 (sau khi chuyển nhượng có BKS 90C-131.52), 29C-917.08 (sau khi chuyển nhượng có BKS 35C-145.67) với tổng số tiền 600.000.000 đồng; bán cho chị Đặng Thị Phương T1 chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 89C-025.11 với giá 50.000.000 đồng; bán cho một người nam giới ở tỉnh Yên Bái (Hân không nhớ được nhân thân, lai lịch) 02 chiếc xe ô tô tải có biển kiểm soát lần lượt là 34M-4937, 29C-149.76 với tổng số tiền 250.000.000 đồng, tổng số tiền H bán 09 chiếc xe ô tải của chị H2 là 1.830.000.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Thị H đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự.

[3] Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vũ Thị H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo đã ủy quyền cho chồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất của vợ chồng tại thị xã D cho bị hại để bồi thường, khắc phục hậu quả; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có bác và chú ruột là liệt sĩ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng, được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vũ Thị H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, với giá trị tài sản lớn. Thời gian vừa qua, trên địa bàn tỉnh Hà Nam các tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản gia tăng cả về số vụ và giá trị tài sản chiếm đoạt, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó, cần xử phạt tù đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Cần phải phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, chồng bị cáo là anh Trần Văn H1 đã chuyển nhượng thửa đất của vợ chồng bị cáo cho bị hại để bồi thường theo ủy quyền của bị cáo. Tại phiên toà, bị hại Lê Thị H2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên không phải giải quyết.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với anh Vũ Văn H3, Nguyễn Trường K, chị Đặng Thị Phương T1 là những người mua xe ô tô của H, anh Đỗ Văn H4, anh Tường Duy T2 và anh Lê Văn D1 là người mua lại xe ô tô. Khi mua xe ô tô anh K, anh H3, chị T1, anh H4, anh T2, anh D1 không biết những chiếc xe ôtô này do H phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không xử lý anh H3, anh K, chị T1, anh H4, anh T2, anh D1 là đảm bảo đúng quy định pháp luật.

Đối với 02 chiếc xe 29C-917.08 và 90H-012.51, quá trình mua bán các bên không biết những chiếc xe trên do H phạm tội mà có. Bị hại bà Lê Thị H2 và ông Nguyễn Văn S yêu cầu bị cáo Vũ Thị H bồi thường giá trị bằng tiền đối với 09 chiếc xe bị cáo đã chiếm đoạt. Do đó, ông Đặng Văn Thiên Ú1 được quyền quản lý, sử dụng xe ô tô 29C-917.08 đã cấp biển số 35C-145.67 mới mang tên Đặng Văn Thiên Ú1; ông Lê Văn D1 được quyền quản lý, sử dụng xe ô tô 90H-012.51 đã cấp biển số 90C-131.52 mới mang tên Lê Văn D1.

Vũ Thị H khai bán 02 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 34M – 4937 và xe ô tô biển kiểm soát 29C-149.76 cho một người nam giới ở tỉnh Yên Bái (không xác định được nhân thân lai lịch). Ngoài lời khai của H thì không còn tài liệu chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, làm rõ.

Quá trình điều tra, Vũ Thị H khai chị Lê Thị H2, anh Vũ Văn H3, anh Nguyễn Trường K cho H vay tiền với lãi suất từ 1.500 đồng/1 triệu/1 ngày đến 2.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Ngoài lời khai của H thì không có chứng cứ nào khác. Do vậy không có căn cứ để xem xét xử lý đối với anh H3, anh K, chị H2 về hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Vũ Thị H khai sử dụng số tiền bán xe ô tô của chị H2 để trả nợ bà Phạm Thị N1, sinh năm 1944 ở tổ dân phố T, phường B; bà Phan Thị H5, sinh năm 1984, ở tổ dân phố G, phường B; ông Trần Văn M, sinh năm 1972, tổ dân phố V, phường Y cùng thuộc thị xã D. Bà N1, bà H5, ông M khai không biết số tiền H trả nợ là tiền bán xe ô tô của chị H2, nên không có cơ sở để thu hồi.

Đối với chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 29C-113.47 Hân thuê của chị H2, hiện chị H2 chưa nhận lại. Đây là đối tượng của hợp đồng dân sự thuê tài sản, các bên tự giải quyết theo hợp đồng đã ký kết, nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4, khoản 5 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 48 và Điều 50 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự; các Điều 106, 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 16 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Thị H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Vũ Thị H 13 (Mười ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 5 năm 2024.

3. Phạt bổ sung bị cáo Vũ Thị H 10.000.000 (Mười triệu) đồng sung ngân sách Nhà nước.

4. Bị cáo Vũ Thị H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng KTNV & THAHS Tòa án tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo, bị hại, người bào chữa;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Bộ phận HCTP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vũ Thị H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger