|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày 19-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quang Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Oanh và ông Nguyễn Quốc Vượng.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thái Hà –Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Ngọc H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 18/3/1985 tại tỉnh Nam Định; Nơi thường trú: thôn A, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Phạm Ngọc H1 (đã chết) và bà Đào Thị H2- Sinh năm 1952; Vợ là Trần Thị Đ- Sinh năm 1984 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền sự: Không.
- Tiền án: 02 tiền án.
- + Bản án số 02/2021/HSST ngày 03/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình tuyên phạt Phạm Ngọc H 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. (chưa được xóa án tích).
- + Bản án số 19/2021/HS-ST ngày 15/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, tuyên phạt Phạm Ngọc H 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 và tổng hợp hình phạt của Bản án số 02/2021/HS-ST ngày 03/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình buộc H phải chấp hành hình phạt chung là 21 tháng tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/07/2022 nhưng chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm của bản án nêu trên (chưa được xóa án tích).
- Nhân thân: 02 tiền án đã được xóa án tích (Bản án số 24/HSST ngày 27/01/2006 của Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt Phạm Ngọc H 15 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999; Bản án số 22/2006/HSST ngày 07/9/2006 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, xử phạt Phạm Ngọc H 12 tháng tù về tội: “Trốn khỏi nơi giam” theo quy định tại khoản 1 Điều 311 BLHS năm 1999; cộng với 07 tháng 26 ngày chưa chấp hành án của Bản án số 24 ngày 27/01/2006 của Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Tổng hợp hình phạt Phạm Ngọc H phải chấp hành hình phạt chung là 19 tháng 26 ngày, bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/02/2008).
Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 06/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tại giữ công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái – Có mặt.
Bị hại:
- Anh Đỗ Hồng S, sinh năm 2001; Địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái – Vắng mặt.
- Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn D, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái – Vắng mặt.
- Chị Lê Ngọc A, sinh năm 1999; Địa chỉ: Thôn D, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái – Vắng mặt.
- Anh Trần Quang H3, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái – Vắng mặt.
- Bà Phùng Thị N, sinh năm 1965; Địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái – Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Trần Huy N1, sinh năm 1997; Địa chỉ: Số B, đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 11/8/2024, Phạm Ngọc H đi xe khách từ Lào Cai về Hà Nội, khi gần đến thành phố Y, H nảy sinh ý định vào thành phố Y tìm tài sản sơ hở rồi trộm cắp, khi đến nút giao Văn Phú cao tốc N - Lào Cai, H xuống xe. Đến khoảng 02 giờ 50 phút ngày 12/8/2024, H đón xe taxi đi vào Bệnh viện sản nhi tỉnh Y với mục đích tìm kiếm tài sản để trộm cắp. H đi đến khu vực phòng điều trị số 04, tầng một của Khoa N2, H quan sát thấy trong phòng có khoảng mười người đang ngủ say và cửa ra vào không khóa nên H đã lén lút đi vào trong phòng. H nhìn thấy ở vị trí giường bệnh số 36 ở phía bên tay phải, trên giường anh Đỗ Hồng S cùng vợ đang ngủ say, đầu giường để hai chiếc điện thoại di động gồm một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A12 và một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen, trong đó có một chiếc điện thoại di động đang cắm sạc, H đi lại gần, dùng hai tay rút điện thoại ra khỏi dây sạc, rồi trộm cắp hai chiếc điện thoại di động trên và cất giấu vào trong túi quần đang mặc trên người. Khi quay sang giường bệnh số 34 ở phía đối diện của giường bệnh số 36, H phát hiện thấy tại vị trí sát cạnh phía trong cùng bên trái người chị Lê Ngọc A và bà Hoàng Thị T đang nằm ngủ, có để hai chiếc điện thoại di động gồm: một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax và một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu hồng. H đã tiến lại gần, dùng tay lấy hai chiếc điện thoại nêu trên cất giấu vào trong chiếc túi nilon đựng quần áo H mang theo, rồi rời khỏi phòng.
Sau khi trộm cắp được 04 (bốn) chiếc điện thoại di động tại phòng điều trị số 04 nêu trên, H đi lên tầng 2, Khoa Sản của bệnh viện. Khi đi đến phòng yêu cầu 2.1, H phát hiện thấy tại vị trí trên đầu giường bệnh nơi anh Trần Quang H3 và vợ của anh H3 đang ngủ say, có để một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max đang cắm sạc. H đã lại gần, dùng hai tay rút dây sạc rồi trộm cắp chiếc điện thoại trên và cất giấu vào trong chiếc túi nilon đựng quần áo lúc trước và rời khỏi phòng.
Khi H đi xuống và đi ngang qua phòng yêu cầu 1.5 dưới tầng một của Khoa sản của Bệnh viện, H lại phát hiện thấy tại vị trí cuối giường bệnh bên trái gần cửa sổ (theo hướng từ cửa chính đi vào) nơi bà Phùng Thị N đang nằm ngủ, có để một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6 + J610 màu đen đang cắm sạc. H lại gần, dùng hai tay rút dây sạc điện thoại ra rồi trộm cắp chiếc điện thoại nêu trên và cất giấu vào trong chiếc túi nilon, nhanh chóng rời khỏi phòng.
Sau khi thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản nêu trên, H mang theo 06 chiếc điện thoại đi ra cổng Bệnh viện sản nhi tỉnh Y, đón xe taxi đi ra nút giao cao tốc N - Lào Cai, đón xe khách về nhà ở Nam Định. Đến trưa ngày 12/8/2024, H đã mang sáu chiếc điện thoại di động này đến cửa hàng sửa chữa điện thoại Phương Nam Mobile địa chỉ tại số B, đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định rồi bán cho Trần Huy N1 được số tiền 4.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết số tiền này.
Ngày 04/11/2024, Công an thành phố Y triệu tập Phạm Ngọc H để làm việc. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như trên.
* Vật chứng, đồ vật, tài liệu tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS, màu hồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A12, màu xanh; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS, màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS MAX, màu vàng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 PROMAX, màu xanh và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J6 + J610, màu đen, đều đã qua sử dụng do Trần Huy N1 giao nộp.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 49/KL-HĐĐGTS ngày 24/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Y kết luận:
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J6 + J610, màu đen, cũ đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt ngày 12/8/2024 là: 500.000 đồng
- Chiếc sim điện thoại số: 0347.794.xxx, có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt ngày 12/8/ 2024 là: không đồng. (BL 34-35)
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 52/KL-HĐĐGTS ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Y kết luận:
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS, màu hồng, cũ đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 12/8/2024 là: 2.000.000 đồng.
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A12, màu xanh, cũ đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 12/8/2024 là: 1.000.000 đồng.
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS, màu đen, cũ đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 12/8/2024 là: 1.500.000 đồng.
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS MAX, số sê-ri: FFMX7Z1SKPHF, số IMEI: 35 726009 2931004, màu vàng, cũ đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 12/8/2024 là: 5.000.000 đồng.
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 PROMAX, màu xanh, cũ đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 12/8/2024 là 7.000.000 đồng.
- Đối với các sim điện thoại di động số: 0987.754.xxx; 0398.465.591; 032.992.3xxx; 0983.274.448; 0342.775.720 (đều không thu hồi được), tình trạng đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 12/8/2024 là: không đồng.
Tổng giá trị 06 (sáu) chiếc điện thoại di động Phạm Ngọc H đã trộm cắp tại thời điểm ngày 12/8/2024 có giá trị là 17.000.000 đồng.
Cáo trạng số 07/CT-VKSTP ngày 08/01/2025, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố Phạm Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên Quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- Bị cáo Phạm Ngọc H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại sau khi nhận lại tài sản bị trộm cắp không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, anh Trần Huy N1 không yêu cầu H phải bồi thường số tiền 4.000.000 đồng nên không đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết.
Về vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án: Đối với 06 chiếc điện thoại ngày 12/11/2024 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Y đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 947/QĐ-ĐCSHS và tiến hành trao trả cho các chủ sở hữu hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì và xin được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái, Điều tra viên, Kết luận định giá tài sản, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt các văn bản hợp lệ nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản, trong thời gian khoảng từ 03 giờ 00 phút đến khoảng 04 giờ 30 phút ngày 12/8/2024 tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Y, Phạm Ngọc H đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (điện thoại di động) cụ thể như sau:
- - Tại Phòng điều trị số 04 khoa Nhi, Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Y Phạm Ngọc H đã trộm cắp: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A12, màu xanh + 01 sim, có giá trị tại thời điểm trộm cắp là 1.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen + 01 sim có giá trị 1.500.000 đồng, của anh Đỗ Hồng S; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu hồng + 01 sim, có giá trị là 2.000.000 đồng, của bà Hoàng Thị T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax + 01 sim, có giá trị 7.000.000 đồng, của chị Lê Ngọc A.
- - Tại Phòng yêu cầu 2.1 khoa Sản, Bệnh viện S tỉnh Yên Bái, Phạm Ngọc H đã trộm cắp: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max + 01 sim, có giá trị là 5.000.000 đồng, của anh Trần Quang H3.
- - Tại Phòng yêu cầu 1.5 khoa Sản, Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Y, Phạm Ngọc H đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6 + J610 màu đen+ 01 sim, có giá trị là 500.000 đồng, của bà Phùng Thị N. Sau đó H đã mang 06 chiếc điện thoại trên bán cho Trần Huy N1 lấy số tiền 4.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
Tổng giá trị tài sản mà Phạm Ngọc H đã trộm cắp ngày 12/8/2024 có giá trị là 17.000.000 đồng.
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Đỗ Hồng S, bà Hoàng Thị T, chị Lê Ngọc A, anh Trần Quang H3, bà Phùng Thị N do bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố truy tố bị cáo H theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
- Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống cộng đồng. Động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo là vụ lợi cá nhân.
- Về tình tiết tăng tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bố đẻ bị cáo là ông Phạm Ngọc H1 là thương binh, được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba được quy định tại các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Phạm Ngọc H là người có nhân thân xấu, phạm tội khi chưa được xóa án tích và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhiều lần có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Do đó, cần phải có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Phạm Ngọc H không có công việc ổn định, lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng và tài sản thu giữ: Đối với 06 chiếc điện thoại di động, ngày 12/11/2024 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Y đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 947/QĐ-ĐCSHS và tiến hành trao trả cho các chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
- Đối với Trần Huy N1, quá trình điều tra xác định khi mua 06 chiếc điện thoại di động từ H, N1 không biết đó là những chiếc điện thoại do trộm cắp mà có, do vậy Cơ quan CSĐT Công an thành phố Y không đủ căn cứ xử lý N1 về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Phạm Ngọc H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06-11-2024.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016. Quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Ngọc H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ đối với phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
Bùi Quang Trung
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Bùi Quang Trung |
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H 02 năm 06 tháng tù
