Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày 18 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Thanh Tân

Bà Lường Thị Tươi.

Thư ký phiên toà: Ông Ngô Trí Danh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên toà:

Bà Bạc Thị Thoản - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam T, tỉnh Sơn La:

- Bị cáo: Cà Văn C. Có mặt.

- Cán bộ chiến sỹ Phân trại tạm giam T: Ông Sồng A V và ông Lò Văn S.

Ngày 18 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cà Văn C (gọi khác: Không), sinh ngày 12/11/1997 tại xã T, tỉnh Sơn La;

Nơi cư trú: Bản C, xã T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cà Văn T và bà Tòng Thị T1; bị cáo chưa có vợ con. Bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam T2 từ ngày 10/07/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 10/7/2025, tổ công tác phòng chống tội phạm Công an xã T, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản C, xã T, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang Cà Văn C sinh năm 1997, trú tại bản Chiềng Pấc, xã T, tỉnh Sơn La có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Qua kiểm tra Cà Văn C giao nộp 01 gói gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột cục màu trắng hồng nghi là H và ma túy tổng hợp trộn lẫn. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.

Ngày 11/7/2025 Cơ quan CSĐT Công an xã T, tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định đối với toàn bộ chất bột cục màu trắng hồng nghi là H và ma túy tổng hợp trộn lẫn thu giữ của Cà Văn C tổng khối lượng là 0,28 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định, ký hiệu C1 bàn giao cho Phòng K Công an tỉnh S giám định chất ma túy, loại ma túy. Tại bản kết luận giám định số: 778/KL-KTHS ngày 14/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu C1 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine và H (H1), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,28 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,28 gam loại Methamphetamine và H (H). Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Cà Văn C khai nhận:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 10/7/2025, Cà Văn C đi bộ một mình từ nhà ở bản C, xã T, tỉnh Sơn La đến bản M, xã T, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi C đi đến khu vực cánh đồng thuộc bản Mảy thì gặp và hỏi mua được của một người nam giới đang đứng một mình tự giới thiệu tên là “Đâm” (Cà Văn C không biết rõ họ tên, tuổi, nơi ở của Đ) 01 (một) gói nilon màu xanh bên trong có chứa Heroine và hồng phiến trộn lẫn với giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, C cất gói ma túy vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi C đi về đến khu vực bản C, xã T, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an xã T, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Quá trình điều tra Cà Văn C còn khai nhận: Vào ngày 05/7/2025, Cà Văn C có mua 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) ma túy (Heroine và hồng phiến) của một người đàn ông không rõ họ tên và địa chỉ tại khu vực bản L, xã T, tỉnh Sơn La để sử dụng bằng hình thức đốt hút tại khu vực đường liên bản Lọng Mén, xã T, tỉnh Sơn La.

Đối với hành vi sử dụng ma túy vào ngày 05/7/2025 của Cà Văn C, quá trình điều tra xác định được C không thuộc chủ thể của tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự (Được sửa đổi theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội). Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1, Điều 23, Mục 2 (Vi phạm hành chính về phòng, chống tệ nạn xã hội) Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ đối với Cà Văn C bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKS-KV2 ngày 21/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La, truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La để xét xử bị cáo Cà Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa bị cáo C thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, thống nhất với lời khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cà Văn C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với vật chứng liên quan còn lại là 01 (Một) vỏ nilon màu xanh + 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các vật chứng trên được cho vào một phong bì thư đã được chuyển theo hồ sơ vụ án để lưu trữ theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt kho khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo đồng ý với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.

[2] Về tình tiết định tội:

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 10/07/2025, biên bản niêm phong vật chứng ngày 10/07/2025, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 11/07/2025, Kết luận giám định số: 778/KL-KTHS ngày 14/7/2025, các biên bản ghi lời khai nhận của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội, biên bản lấy lời khai của người chứng kiến và đều phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 10/7/2025, tại bản C, xã T, tỉnh Sơn La, Cà Văn C đã có hành vi cất giấu trái phép 0,28 gam (Không phẩy hai mươi tám gam) chất ma túy, loại Heroine và Methamphetamine trộn lẫn nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện sau 00 giờ ngày 01/7/2025, khi Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự đã có hiệu lực pháp luật. Ngày 05/9/2025 Văn phòng Q đã có văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH hợp nhất Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024, Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự thành bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025, vì vậy cần áp dụng Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025 để quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) có mức phạt tù từ 03 đến 05 năm.

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử bị cáo Cà Văn C là chính xác, đúng người, đúng tội, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, không oan sai cho bị cáo. Tại thời điểm thực hiện hành vi của mình bị cáo đã có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm mà bị cáo đã thực hiện.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng sức khỏe con người, suy kiệt nòi giống đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác.. Bị cáo có đủ nhận thức hiểu được tác hại của ma túy. Song để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm.

Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ ít 0,28 gam, khi xảy ra sự việc bị cáo tự giác giao nộp số ma túy đang tàng trữ cho Cơ quan điều tra, ngoài mục đích tàng trữ để sử dụng bị cáo không có mục đích khác.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Về nhân thân: Bị cáo phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự.

Do vậy cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để có mức án phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy tại địa phương.

[5] Về hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị lớn, hoàn cảnh gia đình khó khăn vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Đối với vật chứng liên quan còn lại là 01 (Một) vỏ nilon màu xanh + 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các vật chứng trên được cho vào một phong bì thư đã được chuyển theo hồ sơ vụ án để lưu trữ theo quy định của pháp luật.

[7] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông tên Đ tại khu vực bản M, xã T, tỉnh Sơn La bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không rõ họ tên và địa chỉ, nên không có cơ sở, căn cứ để điều tra xác minh.

Đối với hành vi sử dụng ma túy vào ngày 05/7/2025 của Cà Văn C, do C không thuộc chủ thể của tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025. Do đó Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1, Điều 23, Mục 2 (Vi phạm hành chính về phòng, chống tệ nạn xã hội) Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ đối với Cà Văn C bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S là có căn cứ, đúng pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc diện được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 331, Điều 333 BLTTHS.

[10] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng, tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo:

    Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).

    Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn C (Tên gọi khác: Không) phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Cà Văn C 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 10/07/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng vụ án: Đối với vật chứng liên quan còn lại là 01 (Một) vỏ nilon màu xanh + 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các vật chứng trên được cho vào một phong bì thư đã được chuyển theo hồ sơ vụ án để lưu trữ theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cà Văn C.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 18/11/2025.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND khu vực 2 - Sơn La;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Sơn La;
  • - Trại tạm giam;
  • - THA hình sự;
  • - Phòng THA Dân sự kv 2 – Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cầm Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cà Văn C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger