Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1- THANH HÓA

----------------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày: 10/11/2025.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Đình Tuý và Bà Nguyễn Thị Minh Thảo

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:

Bà Trần Minh Phương – Thư ký TAND khu vực 1- Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Ông Trịnh Công Sơn - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Hữu C (tên gọi khác: Không); Sinh năm 1996 tại Thanh Hóa; Nơi thường trú: Khu phố Đ, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số thẻ CCCD: [...]; Trình độ văn hóa: 12/12 Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Hữu L; Con bà: Thiều Thị T; Vợ: Lê Thị Tuyết S năm 1998, Có 02 con (con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021); Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo là Đảng viên Đ đã bị khai trừ đảng (theo Quyết định số 15-QĐ/UBKT ngày 24 tháng 10 năm 2025 của Ủy Ban Kiểm tra – Đ phường Đ).

    Tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/3/2025 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Thanh Hóa.

  3. Dương Quốc N (tên gọi khác: Không); sinh năm 2003 tại Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn T, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở: P khu T, phố T, phường Q, tỉnh Thanh Hóa. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số thẻ CCCD: [...] Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Con ông: Dương Văn S1; Con bà: Trịnh Thị L1 Sinh năm 1979; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2021 bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác và hành vi Đánh nhau".

Tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/3/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Y.

  1. Lê Hữu L2 (tên gọi khác: Không); Sinh năm 2003 tại Thanh Hóa; Nơi thường trú: Tiểu khu T, xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở: P khu T, phố T, phường Q, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số thẻ CCCD: [...]; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Con ông: Lê Thanh N1; Con bà: Lê Thị L3; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/3/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Thanh Hóa.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 0 giờ 30 phút ngày 20/3/2025, Phòng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, đang làm nhiệm vụ ở khu vực chợ Q1 thuộc phố T, phường Q, thành phố T (nay là phường Q), tỉnh Thanh Hóa thì phát hiện Lê Hữu L2 đang điều khiển xe mô tô BKS 36B1-77227 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện và thu giữ trong túi áo trái Lê Hữu L2 đang mặc 01 túi nilong màu trắng, bên trong có 06 viên nén hình trụ màu xanh và 03 túi nilong màu trắng bên trong các túi nilong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy Ketamine. Lê Hữu L2 khai nhận đây là ma túy thuốc lắc và K, L2 đang mang cho Dương Quốc N (bạn thuê trọ cùng phòng của L2) để N bán cho khách kiếm lời. Tổ công tác đưa L2 về Công an phường Q lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Hữu L2, thu giữ toàn bộ số ma túy trên.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Hữu L2 khai báo: Vào ngày 17/3/2025 sau khi đi chơi về phòng trọ của mình ở Phòng 405 Khu trọ Quê nhà thuộc phố T, phường Q, thành phố T (nay là phường Q), tỉnh Thanh Hóa Dương Quốc N nói với Lê Hữu L2 về việc N mới mua ma túy về để bán cho khách kiếm lời và bảo L2 cho N mượn chìa khóa xe mô tô biển kiểm soát 36B3- 39808 của L2 để N cất giấu ma túy trong cốp xe và nhờ L2 khi nào có khách hỏi mua ma túy thì N sẽ bảo L2 đưa ma túy cho N thì L2 đồng ý. L2 đưa cho N chìa khóa xe mô tô để N cất giấu ma túy trong cốp xe máy của L2. Sau đó L2 xuống kiểm tra trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 36B3- 39808 thì phát hiện có 08 viên ma túy thuốc lắc và nhiều gói Ketamine. Đến tối ngày 19/3/2025 khi L2 đang ở phòng trọ thì N gọi điện thoại cho L2 bảo L2 lấy cho Nam 06 viên ma túy thuốc lắc và 03 túi Ketamine trong cốp xe mô tô rồi mang ra khu vực cầu Q, phường Q, thành phố T (nay là phường Q), tỉnh Thanh Hóa để N giao cho khách. L2 đồng ý và lấy ở mở cốp xe mô tô 06 viên ma túy thuốc lắc và 03 túi Ketamine và bỏ số ma túy trên vào trong 01 chiếc khẩu trang màu xanh rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B1-77227 (xe của N) đi ra điểm hẹn. Khi đi đến khu vực chợ Q1 thì bị Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của L2 ở xóm trọ Quê Nhà ở phố T, phường Q, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ bên trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 36B3- 39808 có 01 túi nilong màu trắng bên trong có 02 viên nén hình tròn màu xanh và 15 túi nilong màu trắng bên trong có chất tinh thể màu trắng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã thu giữ niêm phong số ma túy trên.

Căn cứ lời khai của Lê Hữu L2, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã triệu tập Dương Quốc N để làm việc. Qúa trình điều tra, Nam khai báo: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên N nảy sinh ý định bán ma túy kiếm lời. Vào chiều ngày 17/3/2025 N gọi điện thoại vào số 0975.102.xxx của Nguyễn Hữu C hỏi mua 5.000.000đ ma túy thuốc lắc và ma túy Ketaimine thì C bảo với N sẽ gọi lại sau. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày C gọi cho N hẹn ra cầu vượt đường sắt ở xã Đ, thành phố T (nay là phường Đ), tỉnh Thanh Hóa để giao dịch ma túy. Khi đến điểm hẹn N đưa cho C 5.000.000đ. C nhận tiền và đưa cho N 01 phong bì bên trong có 01 túi nilon đựng 08 viên thuốc lắc và 01 túi nilon đựng chất tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine. Sau khi mua được ma túy thì N mang về phòng trọ chia túi ma túy Ketaimine thành 18 túi nhỏ và nói với Lê Hữu L2 về việc N có ma túy để bán cho khách kiếm lời. N mượn chìa khóa xe máy của L2 để cất giấu ma túy vào trong cốp xe máy của L2 và nhờ L2 khi nào có khách hỏi mua ma túy thì N sẽ gọi cho L2 mang ma túy cho N để N giao cho khách. L2 đồng ý và đưa 01 chìa khóa xe máy của L2 cho N để N mở cốp xe máy cất giấu số ma túy. Đến tối ngày 19/3/2025, N gọi điện thoại cho L2 bảo L2 mở cốp xe máy và mang cho N 06 viên thuốc lắc và 03 túi Ketamine để N bán cho khách. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên N đã tự nguyện đầu thứ, khai nhận hành vi phạm tội.

Căn cứ lời khai của Dương Quốc N, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã triệu tập Nguyễn Hữu C để làm việc. Qúa trình điều tra, C khai báo: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 17/3/2025 khi C đang ở nhà thì Dương Quốc N sử dụng số điện thoại 0353.193.xxx gọi vào số điện thoại 0975.102.xxx của C hỏi mua 5.000.000đ ma túy thuốc lắc và K1 thì C hẹn N chiều tối C sẽ báo lại. Sau đó C sử dụng tài khoản T1" Cường B" của C liên lạc với tài khoản T1 "Lêu Aleu" hỏi mua 4.000.000đ ma túy thuốc lắc và K1, người này đồng ý và bảo C khoảng 16 giờ đi ra đoạn đường tránh gần ngã năm nhồi ở phường Đ, tỉnh Thanh Hóa để giao dịch ma túy. Sau đó C bắt taxi đến điểm hẹn. Khi đến nơi thì C gặp 1 nam thanh niên tự giới thiệu tên là B1 đi xe máy Wave màu đen không biến kiểm soát. C đưa cho người này 4.000.000đ và người này đưa lại cho C 1 túi đựng 08 viên thuốc lắc và 01 túi đựng Ketamine. Nhận được ma túy C mang về nhà rồi bỏ số ma túy trên vào trong 01 phong bì. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, C liên lạc lại với N để giao dịch ma túy. NC thống nhất giao dịch ma túy ở cầu vượt đường sắt ở xã Đ, thành phố T (nay là phường Đ), tỉnh Thanh Hóa. Sau đó C đi đến điểm hẹn và đưa cho N 01 phong bì bên trong có 08 viên thuốc lắc và 01 túi Ketamine và lấy của Nam 5.000.000đ. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Nguyễn Hữu C đã tự nguyện đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản kết luận giám định số 1164 ngày 26/3/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:

06 viên nén hình trụ tròn màu xanh có tổng khối lượng 2,911 gam là ma túy loại MDMA.

03 túi nilong màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng có tổng khối lượng 2,277 gam là ma túy loại Ketamine.

02 viên nén hình trụ tròn màu xanh có tổng tổng khối lượng 1,005 gam là ma túy loại MDMA.

15 túi nilong màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng có tổng khối lượng 9,949 gam là ma túy loại Ketamine.

Tổng khối lượng 08 viên nén hình trụ tròn màu xanh là ma túy loại MDMA là 3,916 gam, tổng khối lượng chất tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamine là 12,226 gam.

Đối với số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì do Phòng K2 Công an tỉnh T phát hành; 03 điện thoại di động thu giữ của Lê Hữu L2, Dương Quốc NNguyễn Hữu C sử dụng vào giao dịch mua bán ma túy; 02 xe mô tô biến kiếm soát 36B1-77227 và 36B3-39808 thu giữ của NL2 là vật chứng của vụ án phải chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Thanh Hóa theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số ma túy đã bán cho Nguyễn Hữu C: Quá trình điều tra Nguyễn Hữu C khai báo đã liên hệ với 1 tài khoản có tên: “Lêu A leu” trên ứng dụng Telegram mua số ma túy trên với giá 4.000.000đ, người giao ma túy cho C là một nam thanh niên giới thiệu tên “Bờm” không rõ lai lịch, đeo khẩu trang, đi xe máy không gắn biển kiểm soát, gặp và giao dịch tại đoạn đường vắng. Cơ quan Công an đã điều tra, xác minh nhưng không xác định được người bán Ma túy cho Nguyễn Hữu C.

Quá trình điều tra Nguyễn Hữu C Dương Quốc NLê Hữu L2 đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được.

Về vật chứng vụ án:

  • - 01 phong bì ma túy niêm phong của phòng K2 Công an tỉnh T, có dấu của phòng K2, kèm chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn Q, Trần Thị Thúy H, Nguyễn Trần Đăng.
  • - 01 điện thoại di động Iphone 16Pro Max, màu xám số Imei 355564847523244. Điện thoại gắn kèm thẻ sim, thu giữ của Nguyễn Hữu C.
  • - 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro Max, màu tím số Imei 359761970561704. Điện thoại gắn kèm thẻ sim, thu giữ của Dương Quốc N.
  • - 01 điện thoại di động Iphone 8 Pro Max, màu đỏ số Imei 356736082352138. Điện thoại gắn kèm thẻ sim, thu giữ của Lê Hữu L2.
  • - 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe: WAVE RS, BKS: 36B3-398.08, màu sơn, trắng đen; số máy 52E1141110; số khung DY 031002; dung tích xilanh 110cm³, ngày đăng ký 25/11/2013, xe không có gương chiếu hậu yên xe bị bong, rách, xe cũ, han gỉ.
  • - 01 xe máy hãn hiệu YAMAHA, số loại EXCTITER, BKS: 36B1- 772.27, màu sơn: Đen đỏ vàng; số máy: 1S9A015299; số khung: RLCE1S9A0BY015285; dung tích xi lanh: 134 cm³; ngày đăng ký 09/12/2011, không có gương chiếu hậu.

Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại phòng Thi hành án dân sự khu vực 1-Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 15/2026/KV1 ngày 31/ 10/2025 giữa Công an với Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

Tại bản cáo trạng số 05/CT – VKSKV1 ngày 10/ 10/ 2025 của Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa, đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Hữu C, Dương Quốc NLê Hữu L2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND khu vực1 - Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Hữu C.

Điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Dương Quốc NLê Hữu L2.

Đề nghị HĐXX tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hữu C, Dương Quốc NLê Hữu L2 phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Mức hình phạt đại diện VKS đề nghị áp dụng đối với các bị cáo:

  • Nguyễn Hữu C; Dương Quốc N từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù;
  • Lê Hữu L2 : Từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng : Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy và 03 thẻ sim đang gắn kèm điện thoại.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 03 điện thoại di và 02 xe máy;

Truy thu của Nguyễn Hữu C số tiền 5.000.000đ để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Các bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện VKS.

Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội: Vào khoảng 17h 30 phút, ngày 17/3/2025, tại đoạn cầu vượt đường sắt ở xã Đ, thành phố T (Nay là phường Đ), tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Hữu C đã bán trái phép cho Dương Quốc N 08 viên Matuý loại MDMA, có khối lượng 3,916g và 01 túi ma tuý Ketamin có khối lượng 12,226g (Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy so với mức tối thiểu đối với từng chất ma túy theo quy định tại khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là 139,45% và so với mức tối thiểu đối với từng chất ma túy theo quy định tại khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự là 25,279%) để lấy 5.000.000đ. Sau khi mua được số ma tuý trên, Dương Quốc N trao đổi cho Lê Hữu L2 biết về việc N mua Ma tuý về mục đích để bán kiếm lời và nhờ L2 cất giấu toàn bộ số ma tuý này ở trong cốp xe môtô BKS 36B3-39808 của Lê Hữu L2 thì L2 đồng ý, đồng thời Dương Quốc N cũng trao đổi với Lê Hữu L2 về việc khi nào có khách mua Ma túy thì Lê Hữu L2 lấy Ma túy đem cho Dương Quốc N để N bán. Đến khoảng 0h30 phút ngày 20/3/2025 tại khu vực chợ Q1, phố T, phường Q, tỉnh Thanh Hóa, khi Lê Hữu L2 đang trên đường mang 06 viên thuốc lắc và 03 túi Ketamin cho Dương Quốc N để bán thì bị cơ quan Cảnh sát diều tra công an tỉnh T phát hiện bắt quả tang.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo Nguyễn Hữu C Dương Quốc NLê Hữu L2 có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Vì vậy VKSND Khu vực 1 - Thanh Hóa, truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu C, Dương Quốc NLê Hữu L2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là nguyên nhân làm suy thoái kinh tế và là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm.

[4] Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và vai trò của các bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo, do đó các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Ngoài ra các bị cáo còn có các tình tiết giảm nhẹ sau:

- Bị cáo Nguyễn Hữu C: Đầu thú hành vi phạm tội; Trong thời gian làm Bí thư chi đoàn phố X, thị trấn R đã được Ban tặng Bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong chiến dịch thanh niên tình nguyện năm 2021; Có ông, bà nội đã tham gia thanh niên xung phong phục vụ kháng chiến. Do đó bị cáo Nguyễn Hữu C được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm v khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Dương Quốc N: Đầu thú hành vi phạm tội; Có ông bà nội được tặng Huy chương kháng chiến. Do đó bị cáo Dương Quốc N được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Lê Hữu L2: Có ông nội là thương binh và được tặng Huy chương kháng chiến. Do đó bị cáo Lê Hữu L2 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tặng nặng.

Về Vai trò: Trong vụ án này giữa Nguyễn Hữu CDương Quốc N chỉ có quan hệ giữa người mua và người bán ma túy, chứ không cùng bàn bạc trao đổi gì với nhau về việc cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Do đó Nguyễn Hữu C không có vai trò đồng phạm mà độc lập chịu trách nhiệm với khối lượng ma túy đã bán cho Dương Quốc N.

Đối với Dương Quốc NLê Hữu L2 có vai trò đồng phạm với nhau về việc mua bán trái phép chất ma túy. Dương Quốc N là người chủ động bỏ tiền đi mua ma túy về bán kiếm lời, bị cáo Lê Hữu L2 chỉ có vai trò giúp sức cho bị cáo Dương Quốc N. Do đó bị cáo Dương Quốc N có vai trò cao hơn Lê Hữu L2.

[5] Về hình phạt: Căn cứ vào nhân thân và tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì cần cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.

Về đồng phạm: Trong vụ án này bị cáo Dương Quốc NLê Hữu L2 thực hiện hành vi phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn. Do đó cần áp dụng Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự để xem xét quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng:

01 phong bì ma túy là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Do đó cần áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.

Đối với 03 điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Hữu C; Dương Quốc NLê Hữu L2 là phương tiện có liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần áp dụng khoản 1 điểm a khoản 2 Điều 106 của bộ luật tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 03 thẻ sim điện thoại hiện đang gắn kèm trong 03 điện thoại, không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy 03 thẻ sim, theo điểm c khoản 2 Điều 106 của bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe: WAVE RS, BKS: 36B3-398.08, màu sơn, trắng đen; số máy 52E1141110; số khung DY 031002; dung tích xilanh 110cm³, ngày đăng ký 25/11/2013, xe không có gương chiếu hậu yên xe bị bong, rách, xe cũ, han gỉ thu giữ của Lê Hữu L2. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này trước

đây là của bố, mẹ Lê Hữu L2 là ông Lê Thanh N1 và bà Lê Thị L3 đã cho Lê Hữu L2 làm phương tiện đi lại từ năm 2021, ông Lê Thanh N1 và bà Lê Thị L3 không biết việc Lê Hữu L2 sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội. Nay ông Lê Thanh N1 và bà Lê Thị L3 khẳng định chiếc xe trên đã cho Lê Hữu L2, nên không có liên quan và yêu cầu gì đối với chiếc xe này vì đã cho Lê Hữu L2. Ngoài ra đối với 01 xe máy hãn hiệu YAMAHA, số loại EXCTITER, BKS: 36B1- 772.27, màu sơn: Đen đỏ vàng; số máy: 1S9A015299; số khung: RLCE1S9A0BY015285; dung tích xi lanh: 134 cm³; ngày đăng ký 09/12/2011, không có gương chiếu hậu thu giữ của Dương Quốc N. Quá trình điều tra xác minhanh Lê Tất X là chủ phương tiện đã bán chiếc xe này cho Dương Quốc N từ lâu. Nay chủ phương tiện xác định không còn liên quan gì và không có yêu cầu gì đến chiếc xe máy này.

Xét cả 02 chiếc xe máy này đều liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 5.000.000đ, Nguyễn Hữu C bán ma túy cho Dương Quốc N. Đây là số tiền do phạm tội mà có, nên cần truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 của bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

Điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Hữu C.

Điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với Dương Quốc NLê Hữu L2.

Khoản 1, 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu C; Dương Quốc NLê Hữu L2 phạm tội“ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

Nguyễn Hữu C 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/3/2025 (Ngày tạm giữ).

Dương Quốc N 07 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/3/2025 (ngày tạm giữ).

Lê Hữu L2 07 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/3/2025 (ngày tạm giữ).

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 phong bì ma túy niêm phong của phòng K2 Công an tỉnh T, có dấu của phòng K2, kèm chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn Q, Trần Thị Thúy H, Nguyễn Trần Đăng.

- 03 thẻ sim điện thoại hiện đang gắn kèm trong 03 điện thoại (Điện thoại di động Iphone 16Pro Max, màu xám số Imei 355564847523244 thu giữ của Nguyễn Hữu C; điện thoại di động Iphone 14 Pro Max, màu tím số Imei 359761970561704 thu giữ của Dương Quốc N và điện thoại di động Iphone 8 Pro Max, màu đỏ số Imei 356736082352138 thu giữ của Lê Hữu L2).

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

- 01 điện thoại di động Iphone 16 Pro Max, màu xám số Imei 355564847523244, thu giữ của Nguyễn Hữu C.

- 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro Max, màu tím số Imei 359761970561704, thu giữ của Dương Quốc N.

- 01 điện thoại di động Iphone 8 Pro Max, màu đỏ số Imei 356736082352138, thu giữ của Lê Hữu L2.

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe: WAVE RS, BKS: 36B3-398.08, màu sơn, trắng đen; số máy 52E1141110; số khung DY 031002; dung tích xilanh 110cm³, ngày đăng ký 25/11/2013, xe không có gương chiếu hậu yên xe bị bong, rách, xe cũ, han gỉ thu giữ của Lê Hữu L2.

- 01 xe máy hãn hiệu YAMAHA, số loại EXCTITER, BKS: 36B1- 772.27, màu sơn: Đen đỏ vàng; số máy: 1S9A015299; số khung: RLCE1S9A0BY015285; dung tích xi lanh: 134 cm³ ; ngày đăng ký 09/12/2011, không có gương chiếu hậu thu giữ của Dương Quốc N.

Vật chứng hiện đang tạm giữ tại phòng Thi hành án dân sự khu vực 1-Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 15/2026/KV1 ngày 31/10/2025 giữa Công an với Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

Truy thu của Nguyễn Hữu C số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại Điều 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND khu vực 1- Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - PV06 Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo;
  • - UBKT Đảng ủy phường Đông Sơn, Tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 10/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ng Hữu C + N + L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger