Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày 05-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Hồng Nghiêm.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
  • Bà Trịnh Thị Kim Oanh và bà Đỗ Thị Chúc
  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quang Huy - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 – Sơn La.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 10/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST- HS ngày 24/10/2025 đối với bị cáo:

Vũ Văn T, sinh ngày: 11/12/1985 tại xã S, tỉnh Sơn La; số CCCD: 0140085007973; Nơi cư trú: Tổ dân phố E phường M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Vũ Văn T1 (Đã chết) và bà Lâm Thị H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Bản án số 96/2008/HS-ST ngày 07/01/2008 của TAND huyện Mộc Châu xử phạt Vũ Văn T 09 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo khoản 1 điều 250 BLHS, phải bồi thường cho bị hại số tiền 125.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng. Chấp hành xong án phạt tù ngày 23/8/2008. Chấp hành xong án phí ngày 07/01/2008. Bị hại không yêu cầu Vũ Văn T phải bồi thường.
  • + Bản án số 32/2015/HSST ngày 25/3/2015 của TAND huyện Vân Hồ xử phạt Vũ Văn T 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 138 BLHS 1999, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
  • + Bản án số 102/2015/HSST ngày 29/6/2015 của TAND huyện Mộc Châu xử phạt Vũ Văn T 04 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 2 điều 104 BLHS năm 1999, phải bồi thường cho bị hại 59.000.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm 2.950.000 đồng. Tổng hợp hình phạt với bản án số 32/2015/HSST ngày 25/3/2015 của TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, buộc Vũ Văn T chấp hành cho cả 2 bản án là 06 năm, 06 tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 22/5/2021. Chấp hành xong án phí Bản án số 32/2015/HSST ngày 15/6/2015. Chấp hành xong án phí hình Bản án số 102/2015/HSST ngày 29/6/2015. Đã chấp hành 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được miễn 2.650.000 đồng nghĩa vụ thi hành án theo Quyết định số 04/2021/QĐMTHA-ST ngày 28/12/2021 của TAND huyện Mộc Châu. Bị hại không yêu cầu Vũ Văn T phải bồi thường.
  • + Vũ Văn T đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện thay thế theo Quyết định số 08/QĐ-UBND ngày 14/8/2024 của Ủy ban nhân dân thị trấn M (nay là UBND phường M), thời gian điều trị từ ngày 14/8/2024.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 30 phút ngày 23/7/2025, Công an phường M tiến hành kiểm tra, test ma túy định kỳ đối với Vũ Văn T là đối tượng đang trong thời gian điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện thay thế (Methadone) tại Trung tâm y tế K, tỉnh Sơn La theo Quyết định số 08/QĐ-UBND ngày 14/8/2024 của Ủy ban nhân dân thị trấn M (nay là UBND phường M), thời gian điều trị từ ngày 14/8/2024. Qua kiểm tra Vũ Văn T dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã lập biên bản sự việc, niêm phong vật chứng đề điều tra, xử lý, đồng thời thành lập hội đồng để thu giữ mẫu nước tiểu của Vũ Văn T trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu T1.

Tại Kết luận giám định số: 956/KL-KTHS ngày 26/7/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh P: “Trong mẫu nước tiểu ký hiệu T1 thu ngày 23/7/2025 đối với Vũ Văn T gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine, M. “Methamphetamine: Số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Methadone: Số thứ tự 48, Danh mục IIA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”

Quá trình điều tra, Vũ Văn T khai nhận: Bản thân nghiện chất ma tuý và đang được điều trị nghiện bằng thuốc thay thế hằng ngày tại Trung tâm Y tế K, tỉnh Sơn La nhưng T vẫn tiếp tục sử dụng ma túy, loại ma túy T thường sử dụng hàng ngày là Methamphetamine (hồng phiến). Khoảng 09 giờ ngày 21/7/2025, do bản thân có nhu cầu sử dụng ma tuý nên T đón xe ô tô khách đi đến bản L, xã L, tỉnh Sơn La tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, T xuống xe đi bộ vào trong bản. Khi đang đi bộ trên đường dân sinh, T đã gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi không quen biết 02 viên ma túy, loại H1 phiến với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T đón xe khách đi về nhà, sau đó đi lên nương của gia đình dùng bật lửa ga và mảnh giấy bạc mang theo châm lửa đốt hít khói vào cơ thể. Sau khi sử dụng xong, T vứt bỏ mảnh giấy bạc, mảnh nilon và bật lửa rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 17 giờ ngày 23/7/2025, Công an phường M tổ chức test ma tuý định kỳ để kiểm tra thì phát hiện T có sử dụng ma túy nên lập biên bản để xử lý.

Ngày 24/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ việc Vũ Văn T sử dụng trái phép chất ma túy. Hiện trường được xác định là khu đồi cây thuộc quyền sử dụng của gia đình Vũ Văn T, nằm tại tổ dân phố E, phường M, tỉnh Sơn La. Khu đồi có diện tích khoảng 800 m², trồng nhiều loại cây ăn quả, địa hình dốc thoải xuống hướng Tây, cách nhà ở của Vũ Văn T khoảng 250 mét về phía T.Phía Tây giáp đường đất dẫn vào khu bãi rác, mặt đường rộng khoảng 3,8 mét; Phía Bắc giáp phần đất của gia đình ông, bà T2 – H; Phía Đông là đất nương của gia đình Vũ Văn T; Phía Nam hướng về tuyến đường đi vào khu bãi rác.

Tại hiện trường, vị trí Vũ Văn T thực hiện hành vi sử dụng ma túy được xác định trên nền đất trong khu đồi, cạnh gốc cây nhãn đánh dấu vị trí số 1. Khoảng cách từ vị trí số 1 đến mép đường đất đi vào khu bãi rác là 14,40 mét, đến bờ rào đất của gia đình ông, bà T2 – H là 13,30 mét. Sau khi sử dụng ma túy, T vo mảnh giấy bạc, mảnh nilon và bật lửa bị cháy hỏng đã dùng để đốt ma túy ném vứt xung quanh khu vực đồi cây của gia đình, đánh dấu vị trí số 2, khoảng cách từ vị trí số 2 đến vị trí số 1 là 16,80 mét. Đồng thời, đã tiến hành truy tìm vật chứng đối với các vật chứng nêu trên nhưng không phát hiện thu giữ được.

Ngày 28/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra cho Vũ Văn T thực hiện lại hành vi đưa chất ma túy vào cơ thể, kết quả Vũ Văn T tái hiện hành vi một cách khách quan, phù hợp với lời khai trước đó của T và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT- VKS ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La đã truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự) xử phạt Vũ Văn T từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội: Sử dụng trái phép chất ma túy.
  • - Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong bên trong đựng que test thử ma tuý của Vũ Văn T.

  • - Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát và có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Vũ Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với biên bản kiểm tra chất ma túy, biên bản xác định hiện trường, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Vũ Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vũ Văn T là đối tượng đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy, theo Quyết định số 08/QĐ-UBND ngày 14/8/2024 của Ủy ban nhân dân thị trấn M (nay là UBND phường M), thời gian điều trị từ ngày 14/8/2024. Ngày 21/7/2025 Vũ Văn T đã đi mua ma túy của một người không quen biết tại khu vực đường dân sinh thuộc bản L, xã V, tỉnh Sơn La để sử dụng. Đến ngày 23/7/2025, Công an phường M, tỉnh Sơn La tiến hành kiểm tra, test ma túy định kỳ đối với Vũ Văn T, kết quả có tìm thấy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Vũ Văn T, theo Kết luận giám định số: 956/KL-KTHS ngày 26/7/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh P.

Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng nghiện chất ma túy, đã từng 03 lần bị kết án về các tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; tội trộm cắp tài sản và tội cố ý gây thương tích, bị cáo là đối tượng đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà tiếp tục phạm tội.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với chiếc bật lửa ga màu đỏ và mảnh giấy bạc, do T không nhớ rõ vị trí đã vứt chiếc bật lửa và mảnh giấy bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S không thu giữ được.

Đối với 02 phong bì niêm phong bên trong đựng que test thử ma tuý của Vũ Văn T. Xét thấy, đây là vật không có giá trị sử dụng do vậy tuyên tịch thu tiêu huỷ. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[4] Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Vũ Văn T, do không xác định được lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S không có căn cứ để điều tra xác minh.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; Khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).

    Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.

    Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 23/7/2025.

  2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong bên trong đựng que test thử ma tuý của Vũ Văn T.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 49 ngày 18/9/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công anh tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 – Sơn La.)

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - VKSND Khu vực 6 - Sơn La.
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Trại giam Công an tỉnh Sơn La.
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hồng Nghiêm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Sơn La, ngày ...... tháng ...... năm 2025

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi ...... giờ ...... phút, ngày ...... tháng ......năm 2025;

Tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị H2.

Các hội thẩm nhân dân: .................................................................

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 12/9/2025 đối với bị cáo:

Vũ Văn T, sinh ngày: 27/01/1994 tại M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường M, tỉnh Sơn La;

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

  1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Biểu quyết: 3/3;
  2. Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo cung cấp đều hợp pháp. Biểu quyết: 3/3;
  3. Có đủ có căn cứ kết tội: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).

    Biểu quyết: 3/3;

  4. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).
    • - Xử phạt bị cáo Vũ Văn T ................................................. tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính ngày 01/8/2025.
    • Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

    Biểu quyết: 3/3

  5. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

    Biểu quyết: 3/3

  6. Về xử lý vật chứng, án phí hình sự:
    • * Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

      Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong bên trong đựng que test thử ma tuý.

    • * Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Biểu quyết: 3/3.

  7. Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều hợp pháp.

    Biểu quyết: 3/3.

  8. Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

    Biểu quyết: 3/3

  9. Về thời hạn tạm giam: Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.

    Biểu quyết: 3/3

  10. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Biểu quyết: 3/3

  11. Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: Không.

    Biểu quyết: 3/3

Nghị án kết thúc vào hồi ...... giờ ...... phút, ngày ...... tháng ...... năm 2025.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 05/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về hình sự sơ thẩm (sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vũ Văn T là đối tượng đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy, theo Quyết định số 08/QĐ-UBND ngày 14/8/2024 của Uỷ ban nhân dân thị trấn Mộc Châu (nay là UBND phường Mộc Châu), thời gian điều trị từ ngày 14/8/2024. Ngày 21/7/2025 Vũ Văn T đã đi mua ma túy của một người không quen biết tại khu vực đường dân sinh thuộc bản Lũng Xá, xã Vân Hồ, tỉnh Sơn La để sử dụng. Đến ngày 23/7/2025, Công an phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La tiến hành kiểm tra, test ma túy định kỳ đối với Vũ Văn T, kết quả có tìm thấy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Vũ Văn T, theo Kết luận giám định số: 956/KL-KTHS ngày 26/7/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ. Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger