|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày: 05-3-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI -TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Quang Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Đình Xiềng.
- Bà Nguyễn Thị Mý.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm, Thư ký Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 50/2024/TLST-HS, ngày 18/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS, ngày 24/12/2024 đối với bị cáo:
1. Tống Văn H (tên gọi khác: không), sinh năm 1998 tại tỉnh Vĩnh Phúc;
Số Căn cước công dân: [...], cấp ngày 21/9/2022 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp.
Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Làng Lang, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tống Văn H1, sinh năm 1975 và bà Phó Thị V, sinh năm 1973; bị cáo có vợ là Trương Thị T, sinh năm 1998, có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019.
Tiền án; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Tốt
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn H2 (tên gọi khác: không), sinh năm 1995 tại tỉnh Gia Lai;
Số Căn cước công dân: [...], cấp ngày 20/8/2021 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp.
Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn H3, sinh năm 1958 và bà Đặng Thị T1, sinh năm 1962; gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1997.
Tiền án; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Tốt
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
3. Rơ Châm H4 (tên gọi khác: không), sinh năm 1991 tại tỉnh Gia Lai;
Số Căn cước công dân: [...], cấp ngày 07/11/2022 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp.
Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Làng Lang, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Rơ Mah J (đã chết) và bà Rơ Châm H5, sinh năm 1958; bị cáo có vợ và 01 con sinh năm 2020.
Tiền án; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Tốt
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/02/2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
4. Trương Văn L (tên gọi khác: không), sinh năm 1991 tại tỉnh Thanh Hóa;
Số Căn cước công dân: [...], cấp ngày 09/8/2021 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp.
Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Làng K, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Việt T2, sinh năm 1969 và bà Hoàng Thị K, sinh năm 1969; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Phương T3, sinh năm 2001, có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2024.
Tiền án; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 19/01/2018 bị Công an huyện I, tỉnh Gia Lai ra Quyết định xử phạt hành chính số 10/QĐ-XPHC với số tiền 750.000 đồng (đã hết thời hiệu vi phạm hành chính).
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
5. Rơ Mah T4 (tên gọi khác: không), sinh năm 1998 tại tỉnh Gia Lai
Số Căn cước công dân: [...].
Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Làng Lang, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ksor O, sinh năm 1970 và bà Rơ Mah H6, sinh năm 1963; bị cáo có vợ là Ksor B, có 01 con sinh năm 2018.
Tiền án; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Tốt
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
6. Võ Hữu B1 (tên gọi khác: không), sinh năm 1995 tại tỉnh Hà Tĩnh;
Số Căn cước công dân: [...].
Nơi đăng ký thường trú: thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ở hiện nay: Làng D, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Hữu L1, sinh năm 1967 và bà Võ Thị T5, sinh năm 1971; gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình, nhỏ nhất sinh năm 1999.
Tiền án; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Tốt
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/4/2024 đến ngày 09/7/2024. Được áp dụng biện pháp bảo lĩnh từ ngày 09/7/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
7. Lê Xuân Đ (tên gọi khác: không), sinh năm 1998 tại tỉnh Gia Lai;
Số Căn cước công dân: [...], cấp ngày 13/6/2023 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp.
Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Làng K, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Xuân K1, sinh năm 1962 và bà Hoàng Thị N, sinh năm 1965; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 2001, có 02 con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2021.
Tiền án; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Tốt
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
8. Ksor N1 (tên gọi khác: không), sinh năm 2003 tại tỉnh Gia Lai;
Số Căn cước công dân: [...].
Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Làng S, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Siu M, sinh năm 1984 và
bà Ksor H7, sinh năm 1984; gia đình bị cáo 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình, nhỏ nhất sinh năm 2010.
Tiền án; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Tốt
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo:
- + Bà Hứa Thị Trung N2 là người bào chữa cho bị cáo Tống Văn H – thuộc Văn phòng Luật sư Hứa Hoàng G, địa chỉ: Số A L, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- + Bà Hoàng Thị Như N3 là người bào chữa cho bị cáo Trương Văn L – thuộc Văn phòng Luật sư Hứa Hoàng G, địa chỉ: Số A L, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hướng Thị N4, sinh năm 1989; địa chỉ: Làng L, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
Người làm chứng:
- + Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1981; Địa chỉ: Làng B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
- + Anh Trần Xuân N5, sinh năm 1982; Địa chỉ: Làng B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
Người phiên dịch: Ông Puih D – Cán bộ Công an huyện I, tỉnh Gia Lai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 16/8/2023, Ksor C đi hát karaoke cùng với Ksor N6, Rơ Mah T4, K, Ksor D1, Ksor N7 và một số người bạn của C tại quán K2 thuộc làng L, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Ksor C mang theo 1,5 lít rượu và bánh vào phòng hát số 2 và trả tiền giờ cho chủ quán trước 480.000 (B2 trăm tám mươi nghìn) đồng rồi cả nhóm ngồi uống rượu và hát được khoảng 15 phút thì Ksor N6 và Rơ Mah T4 có việc nên đi ra ngoài phòng hát.
Khoảng 21 giờ cùng ngày Tống Văn H cùng với Nguyễn Văn H2, Rơ Châm H4, Trương Văn L, Võ Hữu B1, Lê Xuân Đ và một số người bạn của H đến quán karaoke Tuyết N8 hát nhưng không còn phòng nên Tống Văn H có nói với Ksor C để nhóm của H được hát chung với nhóm của C và lúc này giữa H và C có xảy ra mâu thuẫn nhưng C vẫn đồng ý cho nhóm của H hát chung, được khoảng 05 phút do không thích nhóm của H nên Ksor C bỏ ra ngoài và đi về nhà.
Khoảng 22 giờ 15 phút Ksor Nghĩ điện thoại cho Rơ Mah T4 nói trong lúc hát karaoke bị Tống Văn H tát và nhờ T4 quay lại chở về. Sau đó Rơ Mah T4 điều khiển xe mô tô chở Ksor N6 quay lại quán K2 và để xe ở khu vực sân quán, Ksor N6 xuống xe tay cầm mũ bảo hiểm cùng T4 đi đến phòng hát số B thì gặp
Tống Văn H đang đứng trước cửa phòng hát, N6 và T4 muốn vào phòng tìm N1 nhưng H không cho vào nên giữa H, Nam, T4 xảy ra mâu thuẫn. Ksor Nam đã dùng mũ bảo hiểm đánh 02 cái vào vùng trán và đấm 01 cái vào mặt H, Rơ Mah T4 thấy vậy cũng dùng tay đấm H 01 cái làm H ngã xuống đất, sau đó Rơ Mah T4 cầm chiếc xe đạp mini gần đó ném về phía H. Lúc này chị Hướng Thị N4 là chủ quán đang đứng ở khu vực quầy thu ngân thấy đánh nhau nên đã mở cửa phòng hát số 2 và la “có đánh nhau” để mọi người can ngăn thì mọi người trong phòng hát số 2 chạy ra ngoài. Khi thấy H bị N6, T4 đánh thì Nguyễn Văn H2, Rơ Châm H4, Võ Hữu B1, Lê Xuân Đ, Trương Văn L cùng đuổi theo đánh N6 và T4.
Nguyễn Văn H2 đã dùng 01 khúc cây cơ bida đuổi theo và đánh T4 01 cái từ trên xuống vào tay T4 và dùng chân đạp vào lưng T4 01 cái.
Khi thấy B1, H2 cầm cây cơ bị da, L tay không đuổi theo N6 và T4 thì Rơ Châm H4 cũng chạy đuổi theo, dùng chân đạp nhưng không trúng ai.
Khi ra trước cửa phòng hát thấy H bị đánh Trương Văn L dùng tay đấm về phía T4 nhưng không trúng và bị N6 dùng cây cơ bida đánh 02 cái vào lưng, sau đó L thấy B1, H2 cầm cây cơ bị da cùng với Đ đuổi theo N6 và T4 nên cũng nhặt một khúc cây cơ bida đuổi theo để đánh N6 và T4 nhưng không đánh trúng ai và bị T4 dùng tay đấm vào mũi nên không đuổi nữa.
Khi thấy H2 cùng một số người trong nhóm dùng cây cơ bida đuổi theo đánh T4 thì Lê Xuân Đ tay không cũng đuổi theo và ra đến mương nước phía trước quán Tuyết N8 đã dùng tay đánh vào lưng T4 và cùng với Tống Văn H đánh nhau qua lại với T4 tại đây.
Võ Hữu B1, thấy H2 cầm khúc cơ bida đánh vào tay T4 nên cùng nhặt một khúc cơ bida chỉ vào mặt N6 và T4 và sau đó cùng với H2, H4, Đ, L đuổi theo N6 và T4 từ trong quán ra phía cổng quán Tuyết Nhung để đánh nhưng chưa đánh được ai.
Rơ Mah T4, sau khi thấy Ksor N6 dùng mũ bảo hiểm và tay đánh H thì T4 cũng dùng tay đấm và ném xe đạp về phía H, trong lúc bị nhóm của H đuổi đánh thì T4 dùng tay đánh vào mặt L và đánh nhau qua lại với Đ ở dưới mương trước cửa quán K2.
Ksor Nghĩ lúc đầu cầm mũ bảo hiểm nhưng sau đó cầm một khúc cây cơ bida đuổi theo nhóm của H ra đến cổng quán mục đích đánh nhóm của H vì sợ nhóm của H đánh N6 và T4 nhưng chưa đánh được ai.
Tống Văn H, sau khi bị đánh ngã xuống sân trước của phòng hát số 2 và sau khi thấy Đ, H4, B1, H2 từ trong phòng chạy ra đuổi đánh N6 và T4 thì cũng chạy theo ra phía cổng để đuổi đánh N6 và T4. H cùng với Đ đuổi T4 ngã xuống mương nước trước cửa quán Tuyết N8 và đấm nhau qua lại với T4 tại đây. Sau khi đấm nhau xong với T4, H quay lại trong quán karaoke lấy 01 khúc cây cơ
bida và tiếp tục chạy ra khu vực trước của quán nhưng không thấy ai nên vứt khúc cơ bida tại khu vực cổng quán, lúc này Ksor C chạy đến trước công quán K2, Ksor N6 nói với Ksor C là “có người đánh chú T4” nên Ksor N6 và Ksor C chạy lại phía H và hỏi “ai đánh chú T4” nhưng H không nói gì và dùng tay đấm về phía Nam và C nhưng không trúng ai và bị N6 cầm cây cơ bida đánh vào mặt nên bị ngã xuống đường và bị Ksor C dùng dao bấm mang theo đâm 01 cái vào vùng lưng làm bị tổn thương 29%.
- Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 158/KLTTCT-TTPY ngày 01/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận:
+ Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Văn L tại thời điểm giám định là 2% (hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 181/KLTTCT-TTPY ngày 09/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận:
+ Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Rơ Châm H4 tại thời điểm giám định là 0% (Không phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 210/KLTTCT-TTPY ngày 24/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận:
+ Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn H2 tại thời điểm giám định là 3% (Ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 580/KLTTCT-TTPY ngày 17/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận:
+ Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Rơ Mah T4 tại thời điểm giám định là 5% (Năm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Tại bản Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐGTS ngày 08/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện I kết luận: 04 khúc cơ bia dài 1,43m, đường kính to nhất 03cm, màu xám bị gãy bằng gỗ, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 16/8/2023 có giá trị 1.146.000 (Một triệu, một trăm bốn mươi sáu
nghìn) đồng; 02 khúc cơ bia dài 1,44m, đường kính to nhất 03cm, màu vàng bị gãy bằng gỗ, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 16/8/2023 có giá trị 640.000 (Sáu trăm bốn mươi nghìn) đồng. Tổng giá trị: 1.786.000 đồng (Một triệu, bảy trăm tám mươi sáu nghìn).
Tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKS, ngày 14 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Tống Văn H, Nguyễn Văn H2, Rơ Châm H4, Trương Văn L, Rơ Mah T4, Võ Hữu B1, Lê Xuân Đ, Ksor N1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Tống Văn H, Nguyễn Văn H2, Rơ Châm H4, Trương Văn L, Rơ Mah T4, Võ Hữu B1, Lê Xuân Đ, Ksor N1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Tống Văn H từ 28 tháng đến 32 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 56 đến 60 tháng.
- Xử phạt các bị cáo Rơ Mah T4 và Nguyễn Văn H2 mỗi bị cáo từ 26 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 52 đến 60 tháng.
- Xử phạt các bị cáo Rơ Châm H4, Trương Văn L, Võ Hữu B1 và Lê Xuân Đ mỗi bị cáo từ 24 tháng đến 28 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 đến 56 tháng.
- Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Ksor N1 từ 18 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.
Về dân sự: Các bị cáo đã bồi thường số tiền 1.000.000 đồng theo yêu cầu của chị Hướng Thị N4 và tại hồ sơ vụ án chị N4 không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét. Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo và luật sư bào chữa cho các bị cáo Tống Văn H và Trương Văn L thống nhất tội danh là Viện kiểm sát truy tố. Tuy nhiên, các bị cáo và người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Các bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Quá trình điều tra đã giúp Cơ quan điều tra tố giác để Cơ quan điều tra khởi tố bị cáo Ksor N1, tránh bỏ lọt tội phạm quy định tại điểm s, v, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, có giấy khen trong phong
trào toàn dân bảo vệ an ninh trật tự. Ngoài ra bị cáo Trương Văn L có ông nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến vì sự nghiệp bảo vệ tổ quốc nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo H và bị cáo L được áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện I, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh: Xét tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, vì vậy có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
Ngày 16/8/2023 tại làng L, xã I, huyện I là do các bị cáo Tống Văn H, Nguyễn Văn H2, Rơ Châm H4, Trương Văn L, Rơ Mah T4, Võ Hữu B1, Lê Xuân Đ, Ksor N1 đã có hành vi dùng cây cơ bị da đuổi, đánh nhau trong quán và khu vực đường liên xã trước cổng quán K2, đây là nơi kinh doanh dịch vụ, buôn bán đông người, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của quán, gây hoang mang lo sợ đối với những người có mặt tại quán và người dân xung quanh. Theo quy định tại Nghị Định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính Phủ về ban hành Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng và Nghị định số 01/2012/NĐ-CP ngày 04/01/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ một số thủ tục hành chính thuộc chức năng của Bộ V1 là một trong các dịch vụ văn hoá công cộng. Ngày 29/12/2023 UBND xã I có Công văn số 256 báo cáo đánh giá: Hành vi đánh nhau của các đối tượng gây ồn ào, hoang mang lo sợ trong nội bộ quần chúng nhân dân, dẫn đến hậu quả gây thương tích cho nhiều người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Do đó việc truy tố bị cáo Tống Văn H, Nguyễn Văn H2, Rơ Châm H4, Trương Văn L, Rơ Mah T4, Võ Hữu B1, Lê Xuân Đ, Ksor N1 về tội Gây rối trật
tự công cộng quy định tại khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo Tống Văn H, Nguyễn Văn H2, Rơ Châm H4, Trương Văn L, Rơ Mah T4, Võ Hữu B1, Lê Xuân Đ, Ksor N1 là nguy hiểm cho xã hội đã gây ồn ào, làm rối loạn trật tự ở nơi công cộng, gây ảnh hưởng đến việc kinh doanh dịch vụ và làm hư hỏng tài sản hợp pháp của bà Hướng Thị N4, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang lo sợ cho các hộ dân sinh sống xung quanh khu vực, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác cụ thể bị cáo H bị tổn thương cơ thể 29%, bị cáo L bị tổn thương cơ thể 2%, bị cáo Nguyễn Văn H2 bị tổn thương cơ thể là 3% và bị cáo Rơ Mah T4 bị tổn thương cơ thể là 5%. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận thức được việc mình làm là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.
[4]. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng tính chất giản đơn. Giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau để thực hiện tội phạm mà hành vi của các bị cáo là bộc phát tức thời, không có chuẩn bị trước công cụ, phương tiện để phạm tội mà chỉ tiếp thu ý chí của nhau nên thuộc trường hợp phạm tội không có tổ chức. Do vậy, khi xem xét phải đánh giá tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo đã gây ra.
Đối với bị cáo Tống Văn H là người làm phát sinh mâu thuẫn dẫn đến các bị cáo khác có hành vi đánh nhau gây thương tích và hành vi gây rối trật tự công cộng, là người trực tiếp đánh nhau bằng tay với bị cáo T4 và là người cầm hung khí là cây cơ bị da đi đuổi đánh các bị cáo khác.
Đối với bị cáo Rơ Mah T4 và Nguyễn Văn H2 cũng là người thực hành chính. Bị cáo T4 là người sau khi thấy Ksor N6 đánh bị cáo H đã dùng tay đấm bị cáo H, đồng thời ném chiếc xe đạp mini vào người Hùng, đấm vào mặt bị cáo L. Bị cáo H2 dùng cơ bị da đánh bị cáo T4, chân đạp bị cáo T4 gây thương tích chính cho bị cáo T4.
Đối với bị cáo Rơ Châm H4, Trương Văn L, Võ Hữu B1 và Lê Xuân Đ là những người thực hành tích cực. Các bị cáo Rơ Châm H4, Trương Văn L, Võ Hữu B1 và Lê Xuân Đ đều cầm khúc cơ bị da chạy đuổi đánh nhau gây náo loạn khu vực trong và trước cổng quán Karaoke.
Đối với bị cáo Ksor N1 là người thực hành với hành vi cầm khúc cơ bị da nhưng không tham gia vào hành vi đánh ai mà chỉ cầm khúc cơ bị da để nhằm tự vệ, không có hành vi la hét, kích động gì nên vai trò của bị cáo là thứ yếu, mức độ nguy hiểm thấp hơn nhiều các bị cáo khác nên thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Tống Văn H, Nguyễn Văn H2, Rơ Châm H4, Lê Văn L2, Rơ Mah T4, Võ Hữu B1, Lê Xuân Đ, Ksor N1 đều có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như:
Bị cáo Tống Văn H, Nguyễn Văn H2, Rơ Châm H4, Trương Văn L, Rơ Mah T4, Võ Hữu B1, Lê Xuân Đ, Ksor Nghĩ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Ksor N1 còn được hưởng tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Các bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự nên phải chịu hình phạt theo quy định. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt và mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Xét đề nghị áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo Tống Văn H, Nguyễn Văn H2, Rơ Châm H4, Trương Văn L, Rơ Mah T4, Võ Hữu B1, Lê Xuân Đ, Ksor N1 thì thấy rằng các bị cáo đều có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, không buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam cũng không làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cho các bị cáo được hưởng án treo giao các bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Đối với Ksor C, sau khi mâu thuẫn với Tống Văn H ở quán K2 chiến đã bỏ về nhà, khi C quay lại trước cổng quán K2 thì vụ gây rối trật tự công cộng đã chấm dứt, C không biết, không bàn bạc, không tham gia với các bị cáo khác vào vụ gây rối trật tự công cộng tại quán K2. Hành vi dùng dao đâm Tống Văn H của C đã bị Cơ quan Cảnh Sát điều tra Công an tỉnh G xử lý về tội giết người nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I không đề nghị xử lý là đúng quy định.
[7] Đối với Ksor N6, K đã cùng đồng bọn thực hiện hành vi gây rối trật tự tại quán K2 và cùng với Ksor C thực hiện hành vi giết người, quá trình thực hiện hành vi của Ksor N6 diễn ra liên tục nên đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G khởi tố xử lý về tội Giết người nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I không xem xét đề nghị xử lý về tội gây rối trật tự công cộng là đúng quy định.
[8] Đối với hành vi cố ý gây thương tích của Nguyễn Văn H2, Lê Xuân Đ, Tống Văn H, K là hành vi vi phạm khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, tuy nhiên Rơ Mah T4 đã có đơn đề nghị không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành
vi cố ý gây thương tích của Nguyễn Văn H2, Lê Xuân Đ và Tống Văn H. Nguyễn Văn H2 và Trương Văn L đã có đơn đề nghị không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi cố ý gây thương tích của K, do vây Cơ quan điều tra không xem xét là có căn cứ.
[9] Đối với hành vi gây rối trật tự công cộng tại quán của chị Hướng Thị N4 các bị cáo Tống Văn H, Nguyễn Văn H2, Rơ Châm H4, Trương Văn L, Rơ Mah T4, Võ Hữu B1, Lê Xuân Đ, Ksor N1 đã làm gãy 06 cây cơ bida gây thiệt 1.786.000 (Một triệu, bảy trăm tám mươi sáu nghìn đồng) không đủ định lượng để xử lý về hành vi làm hư hỏng tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét là có căn cứ.
[10] Về dân sự: Các bị cáo đã bồi thường số tiền 1.000.000 đồng theo yêu cầu của chị Hướng Thị N4 và tại hồ sơ vụ án chị N4 không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm, về dân sự đã giải quyết xong nên không xem xét.
[11] Về vật chứng vụ án: 01 khúc cơ bida dài 73cm, đường kính to nhất là 02cm, màu xám, bằng gỗ; 01 khúc cơ bida dài 73cm, đường kính to nhất là 02cm, màu xám, bị gãy bằng gỗ; 01 khúc cơ bida dài 1m43cm, đường kính to nhất là 03cm, màu xám, bị gãy bằng gỗ; 01 khúc cơ bida dài 1m44cm, đường kính to nhất là 03cm, bị gãy màu vàng, bằng gỗ; 01 khúc cơ bida dài 73cm, đường kính to nhất là 02cm, màu xám, bằng gỗ. Đây là công cụ phạm tội đã bị hư hỏng không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
[12] Về án phí: Các bị cáo Tống Văn H, Nguyễn Văn H2, Rơ Châm H4, Rơ Mah T4, Trương Văn L, Võ Hữu B1, Lê Xuân Đ, Ksor N1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Tống Văn H, Nguyễn Văn H2, Rơ Châm H4, Trương Văn L, Rơ Mah T4, Võ Hữu B1, Lê Xuân Đ, Ksor N1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Tống Văn H 28 (Hai mươi tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 56 (Năm mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 05/3/2025).
- Xử phạt các bị cáo Rơ Mah T4 và Nguyễn Văn H2 mỗi bị cáo 26 (Hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 52 (Năm mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 05/3/2025).
- Xử phạt bị cáo Rơ Châm H4, Trương Văn L, Võ Hữu B1 và Lê Xuân Đ mỗi bị cáo 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 05/3/2025).
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Rơ Châm H4 nếu bị cáo Rơ Châm H4 không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Ksor N1 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 13/02/2025).
Giao các bị cáo Tống Văn H, Trương Văn L, Rơ Mah T4 và Lê Xuân Đ cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú là Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao các bị cáo Nguyễn Văn H2 và Ksor N1 cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú là Ủy ban nhân dân xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Rơ Châm H4 cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú là Ủy ban nhân dân xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Võ Hữu B1 cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú là Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 khúc cơ bida dài 73cm, đường kính to nhất là 02cm, màu xám, bằng gỗ; 01 khúc cơ bida dài 73cm, đường kính to nhất là 02cm, màu xám, bị gãy bằng gỗ; 01 khúc cơ bida dài 1m43cm, đường kính to nhất là 03cm, màu xám, bị gãy bằng gỗ; 01 khúc cơ bida dài 1m44cm, đường kính to nhất là 03cm, bị gãy màu vàng, bằng gỗ; 01 khúc cơ bida dài 73cm, đường kính to nhất là 02cm, màu xám, bằng gỗ.
(Vật chứng nói trên có đặc điểm như nội dung biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I, tỉnh Gia Lai và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai);
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án,
Buộc các bị cáo Tống Văn H, Nguyễn Văn H2, Rơ Châm H4, Trương Văn L, Rơ Mah T4, Võ Hữu B1, Lê Xuân Đ, Ksor N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/3/2025) bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quang Hà |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI - TỈNH GIA LAI về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI - TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TP. Hà
