Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - SƠN LA
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày 04 ngày 12 năm 2025

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Văn Sơ

Ông Nguyễn Đức Việt

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Đức Mạnh - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Mai S, Trại tạm giam Công an tỉnh S

Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thảo N

Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La và điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Mai S, Trại tạm giam Công an tỉnh S xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1.1. Lò Văn T. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1998 tại xã M, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT: Bản Đ, xã M, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Chức vụ ĐTĐP: không. Con ông: Lò Văn D, sinh năm 1971 và bà Lò Thị S1, sinh năm 1970. Bị cáo sinh sống như vợ chồng cùng: Hoàng Thị D1, có 01 con sinh năm 2017.

Tiền án: 01. Tại Bản án 44 ngày 23/08/2022 của Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xử 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điều

2

249 Bộ luật hình sự (Ngày 14/5/2024, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, hiện chưa được xóa án tích).

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

1.2. Vì Văn Q. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 02 tháng 05 năm 2006, tại xã P, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT: Bản Chi, xã P, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Chức vụ ĐTĐP: không. Con ông: Vì Văn L, sinh năm 1984 và bà Lò Thị V, sinh năm 1982. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lò Văn D, sinh năm 1971, trú tại bản Đ, xã M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 14/7/2025, tại khu vực đường dân sinh bản Nong Mòn, T mua của một người phụ nữ dân tộc M không biết tên được 01 túi nilon màu hồng bên ngoài được cuốn băng dính màu đen chứa các viên nén màu hồng và 05 viên nén màu hồng có zip khóa với giá 3.000.000VNĐ. Sau đó, T lấy mảnh nilon màu trắng gói 05 viên Methamephetamine kèm theo và cầm toàn bộ số ma tuý đi về nhà. Về đến nhà, T cất giấu túi nilon màu hồng trong hốc cây cột gỗ tại khu vực giường ngủ của T, còn gói nilon màu trắng chứa 05 viên Methamphetamine, T cất giấu trong túi quần đang mặc.

Khoảng 11 giờ ngày 17/7/2025, T gọi điện thoại di động cho Vì Văn Q để xin dưa chuột và ngô, Q đồng ý và hẹn T đến lán nương của gia đình tại bản Chi, xã P, tỉnh Sơn La. Khi đến lán nương của gia đình Vì Văn Q, T đặt vấn đề nhờ Q khi có ai hỏi mua ma tuý sẽ đi giao ma túy cho T, T sẽ trả công 100.000VNĐ hoặc ma túy, Q đồng ý. T lấy 04 viên Methamphetamine đưa cho Q, Q lấy mảnh nilon màu hồng gói lại rồi mang về nhà cất giấu dưới chăn trên giường ngủ. Khoảng 15 giờ ngày 17/7/2025, Vì Văn Q lấy gói Methamphetamine ra sử dụng hết 01 viên bằng hình thức đốt hít tại lán nương của gia đình, 03 viên còn lại Quang gói lại như cũ rồi cuốn bằng băng dính đen bên ngoài và cất giấu dưới đệm tại giường ngủ tại nhà của Q. Đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 18/7/2025, Tổ công tác Công an xã P đến nhà Vì Văn Q làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang Q về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ, niêm phong: 01 gói được quấn bằng băng dính màu đen bên trong là gói nilon màu hồng chứa các mảnh viên nén màu hồng là Methamphetamine; 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh.

3

Đối với 01 viên ma túy trong số 05 viên ma túy T cầm theo, sau khi giao ma túy cho Q, T đã sử dụng hết bằng hình thức đốt hít khi đi xe mô tô đến xã S

Căn cứ lời khai của Vì Văn Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà, nơi ở, đồ vật của Lò Văn T, sinh năm 1998, trú tại bản Đ, xã M, tỉnh Sơn La. Kết quả khám xét khẩn cấp phát hiện, thu giữ: 01 gói được gói bên ngoài bằng lớp băng dính màu đen, bên trong có 01 túi nilon màu hồng có zip khóa chứa các viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine; 01 ống điếu tự chế từ chai nhựa tại hốc cột nhà bên trái đầu giường ngủ trong nhà của Lò Văn T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lò Văn T, tạm giữ của T: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xanh, không gắn biển kiểm soát; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR, màu đen.

Ngày 19/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S phối hợp với Phòng K Công an tỉnh S tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Vì Văn Q và Lò Văn T; trích rút mẫu để giám định:

+ 01 gói được quấn bằng băng dính màu đen bên trong là gói nilon màu hồng chứa các mảnh viên nén màu hồng có khối lượng 0,3 gam thu giữ của Vì Văn Q, lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu M1 cho vào 01 túi nilon màu trắng gửi giám định chất ma tuý.

+ 01 gói được gói bên ngoài bằng lớp băng dính màu đen, tiếp đến là 01 túi nilon màu hồng có zip khóa, bên trong đựng 200 viên nén màu hồng có khối lượng 20,05 gam thu giữ của Lò Văn T, lấy 05 viên có khối lượng 0,49 gam làm mẫu giám định ký hiệu M2 cho vào 01 túi nilon màu trắng gửi giám định chất ma tuý.

Tại Kết luận giám định số 837 ngày 24/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận:

“Mẫu ký hiệu M1, M2 gửi giám định đều là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là M1 = 0,3 gam, M2 = 0,49 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ 20,35 gam; Loại Methamphetamine”.

Do có hành vi nêu trên, tại Bản cáo trạng số 11/CT-VKSKV4 ngày 10/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Vì Văn Q về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

4

Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Tuyên bị cáo Lò Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 13 đến 14 năm tù. Không xử phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Tuyên bị cáo Vì Văn Quang phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Vì Văn Q từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Không xử phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025); khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2015):

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì Công an tỉnh S phát hành được niêm phong theo quy định, trong chứa 02 mảnh băng dính màu đen, 03 mảnh nilon màu hồng; 01 túi nilon màu hồng, một mặt có ký hiệu A và tang vật còn lại 19,56 gam Methamphetamine; 01 ống điếu tự chế thân làm bằng chai nhựa có ký hiệu “3A” thể tích 330ml, thân điều được gắn ống hút nhựa màu trắng.

Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh cho bị cáo V1 Văn Quang; Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu đen chho bị cáo Lò Văn T.

Trả lại cho ông Lò Văn D 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, vỏ màu xanh, không gắn BKS số khung RLHJA39358Y097720, số khung JA70E0955683, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, kèm theo 01 chìa khóa đã qua sử dụng.

Về án phí: Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: bị cáo Lò Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ; bị cáo Vì Văn Quang được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo T giữ nguyên các lời khai trong quá trình điều tra, nhất trí nội dung luận tội của Viện kiểm sát nhưng thấy rằng đề nghị của Viện kiểm sát là quá cao nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo Q xác định nhận của bị cáo T 01 lần ma túy, xin giảm nhẹ hình phạt do bị cáo phạm tội lần đầu và rất hối hận về hành vi của mình.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác định chiếc xe máy Honda Wave, vỏ màu xanh là tài sản đăng ký mang tên ông Lò Văn D. Việc bị cáo T sử dụng xe máy đi mua ma túy ông không biết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho ông chiếc xe máy để làm phương tiện đi lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

5

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã khai nhận: Ngày 14/7/2025, Lò Văn T mua 3.000.000VNĐ của một người phụ nữ dân tộc Mông không biết tên được gồm 205 viên Methamphetamine. Ngày 17/7/2025, Lò Văn T đã đưa cho Vì Văn Quang 04 viên Methamphetamine để Q đi giao ma túy khi có người hỏi mua, T trả công bằng tiền hoặc ma túy Methamphetamine cho Q. Quá trình bắt giữ, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S thu giữ của Lò Văn T 20,05g Methamephetamine, thu giữ của Vì Văn Quang 0,3 gam Methamephetamine. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả khám xét khám xét khẩn cấp nhà, nơi ở, đồ vật; kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, không phát sinh tình tiết mới.

Như vậy, Cáo trạng số 11/CT-VKSKV4 ngày 10/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La là có căn cứ, đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn T đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Vì Văn Q đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét về vai trò và tính chất:

Các bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, biết rõ Nhà nước nghiêm cấm sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển và lưu hành trái phép trên thị trường nhưng bị cáo đã cố tình mua, tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy.

Về vai trò đồng phạm, đây là vụ án có đồng phạm ở thể giản đơn. Bị cáo Lò Văn T là người trực tiếp đi mua túy, cất giấu 20,05 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Bị cáo T đã đưa 04 viên ma túy cho Q để đi giao ma túy. Do đó, Lò Văn T giữ vai trò là chủ mưu trong vụ án. Bị cáo Vì Văn Q khi được Lò Văn T thuê đi bán hộ ma túy đã đồng ý ngay để kiếm lời và cất giấu 03 viên Methamphetamine có khối lượng 0,3 gam mục đích để bán kiếm lời. Do đó, Vì Văn Q giữ vai trò đồng phạm là người thực hành tích cực trong vụ án.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Vì Văn Quang không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

6

Bị cáo Lò Văn T phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Tại Bản án số 44 ngày 23/08/2022 của Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xử 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 14/5/2024, bị cáo T chấp hành xong hình phạt tù, tính đến thời điểm phạm tội này, bị cáo chưa được xóa án tích nhưng bị cáo tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm phần nào nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Đối với bị cáo Vì Văn Q, sau khi bị công an bắt quả tang, Q đã khai báo ra Lò Văn Trường. Theo lời khai của Q, công an tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T và thu giữ 20,05 gam Methamphetamine, nhờ đó cơ quan điều tra đã phát hiện ra hành vi phạm tội của Lò Văn T và giải quyết dứt điểm vụ án. Do đó, cần áp dụng tình tiết người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với Q.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử cân nhắc hình phạt phù hợp với tính chất, vai trò, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và tương xứng với khối lượng ma túy các bị cáo bị thu giữ, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh, các bị cáo sống cùng với gia đình, bản thân không có tài sản riêng có giá trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét xử phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì Công an tỉnh S phát hành được niêm phong theo quy định, trong chứa 02 mảnh băng dính màu đen, 03 mảnh nilon màu hồng; 01 túi nilon màu hồng và tang vật còn lại 19,56 gam Methamphetamine; 01 ống điếu tự chế thân làm bằng chai nhựa. Xét thấy đây là vật nhà nước cấm lưu hành, liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh thu giữ của Vì Văn Quang; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu đen thu giữ của Lò Văn T. Đây là tài sản của các bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định chiếc xe mô tô là tài sản hợp pháp của Lò Văn D, sinh năm 1971, trú tại bản Đ, xã M, tỉnh Sơn La (bố của bị cáo T). Việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô đi mua ma túy, ông D không biết. Do đó, cần trả lại cho ông Lò Văn D theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

7

[7] Các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy, Lò Văn T khai mua của một người phụ nữ dân tộc Mông (không biết tên, địa chỉ) tại khu vực bản N, xã M, tỉnh Sơn La với giá 3.000.000VNĐ. Việc mua bán không có ai biết và chứng kiến. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Hội đồng xét xử cần ghi nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo Lò Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; bị cáo Vì Văn Quang được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025):

Tuyên bị cáo Lò Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn T 14 (Mười bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 18/7/2025).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025):

Tuyên bị cáo Vì Văn Quang phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Vì Văn Q từ 03 (Ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 18/7/2025).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì Công an tỉnh S phát hành được niêm phong theo quy định, trong chứa 02 mảnh băng dính màu đen, 03 mảnh nilon màu hồng; 01 túi nilon màu hồng, một mặt có ký hiệu A và tang vật còn lại 19,56 gam Methamphetamine; 01 ống điếu tự chế thân làm bằng chai nhựa có ký hiệu “3A” thể tích 330ml, thân điều được gắn ống hút nhựa màu trắng.

Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh cho bị cáo V1 Văn Quang; Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu đen cho bị cáo Lò Văn T.

8

Trả lại cho ông Lò Văn D 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, vỏ màu xanh, không gắn BKS số khung RLHJA39358Y097720, số khung JA70E0955683, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, kèm theo 01 chìa khóa đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 05/BB-CCTHADS ngày 12/11/2025 giữa Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - tỉnh Sơn La).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: bị cáo Lò Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ; bị cáo Vì Văn Quang được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Báo cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Viện KSND khu vực 4 - Sơn La;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La;
  • - THADS tỉnh Sơn La;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tráng A Tếnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 04/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger